Menu

VỤ GIẾT NGƯỜI BÍ ẨN-Chương 15


Vụ Giết Người Bí Ẩn


Tác giả: James H. Chase


Chương 15

– Chưa hết. Ông Weatherspoon còn phát minh ra thứ nước chấm đặc biệt bán kèm theo đùi ếch. Thành phần chính là một loại bột được đựng trong một túi nylon đặt trong hộp. Chỉ có ông ta mới biết bí mật làm ra thứ bột này. Việc pha chế cũng rất nhanh: cho chất bột vào nồi, thêm vào đó một chút nước, một chút sữa và rượu trắng rồi đun nhỏ lửa khoảng ba phút là xong.

– Rất hấp dẫn, – tôi nói. – Tôi vốn hay tìm những món dễ nấu mà. Tôi có thể mua một hộp để nấu thử được không?

Cô gái lắc đầu.

– Không được. Về điểm này ông Weatherspoon rất thận trọng. Ông luôn luôn tự tay đặt các gói bột nước chấm vào từng hộp và đứng bên cạnh trông tôi hàn. Ông ta có một danh sách những khách hàng đặt trước chỉ một hộp mỗi tháng. Những hộp này đều được bao gói rất cẩn thận.

– Tôi có thể mua một hộp như thế này ở cửa hàng thực phẩm không?

– Chúng chỉ được bán cho những khách hàng đặt trước. Ông Weatherspoon nói rằng chúng tôi không đủ khả năng cung cấp bán lẻ. Nhưng ông hy vọng rằng việc làm ăn rồi sẽ phát triển rất nhanh.

Tôi đã bắt đầu thấy sự vật đã hơi sáng tỏ.

– Cám ơn cô Smith rất nhiều. Nhưng bây giờ ở đây sẽ ra sao?

Cô gái nhún vai.

– Tôi cũng không biết nữa. Chắc là tôi sẽ phải tìm một công việc khác.

– Đối với một cô gái xinh đẹp và thông minh như cô thì có khó gì. Biết đâu ông Weatherspoon chả có một cộng sự sẽ mua lại nhà máy.

– Có một người Mêhicô thường xuyên tới đây. Nhưng tôi không biết ông ta có cộng tác với ông chủ tôi không? Cũng có thể đó chỉ là một khách hàng.

– Tôi nghĩ là tôi biết anh ta: người nhỏ con, vai rộng và hàng ria mép mảnh.

Cô gái gật đầu và nhìn tôi vẻ tư lự.

– Ông có còn gì muốn hỏi không? Tôi cần phải về rồi.

– Rất tiếc đã làm mất thì giờ của cô. Xin hỏi một câu cuối. Ông Weatherspoon sống ở đâu?

– Ông ấy có căn hộ ở ngay bên trên văn phòng.

– Ông ấy có vợ không?

– Không.

– Cám ơn cô Smith. – Tôi nói và mỉm cười thân thiện, rồi chia tay cô.

Tôi trở về khách sạn Jumping Frog. Bob Wyatt ngồi ở quầy tiếp tân. Trông ông có vẻ gần đất xa trời lắm rồi.

– Không biết bao nhiêu là tin buồn! – Tôi nói và dừng trước mặt ông.

Ông gượng cười với vẻ mệt mỏi.

– Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên mà.

– Rồi ông sẽ tìm được người mua khác thôi. Đã đến ngày tận cùng thế giới đâu mà lo.

– Tôi đâu có lo cho tôi, lo là lo cho con Peggy kia.

– Bệnh tình cô ấy sao rồi?

– Người ta nói rồi cũng qua thôi. (Ông nhìn tôi buồn bã). Nó buồn lắm, mà tôi thì không thể bỏ khách sạn đến thăm nó luôn được.

– Ông nghĩ rằng cô ấy sẽ vui khi có người đến thăm ư? Chiều nay tôi rỗi, tôi có thể mang hoa tới và nói chuyện với cô ấy một lúc, được chứ ạ?

Gương mặt ông già tươi hẳn lên.

– Thật thế chứ? Nó có vẻ mến anh lắm, anh Wallace ạ. Tôi chẳng biết nhờ cậy ai làm việc đó. Các bà ở đây thì lại không ưa nó.

– Thôi cứ để tôi làm cho. Tôi sẽ tới đó ngay bây giờ. Bệnh viện ở chỗ nào, ông Bob?

Ông chỉ đường cho tôi. Bệnh viện chỉ cách Searle khoảng một cây số.

Mang một bó hoa tươi và một cuốn sách ăn khách mới nhất của Judith Kantz, tôi bước vào sân bệnh viện và phát hiện ngay ra Peggy đang ngồi ở ban công, mắt nhìn đăm đăm vào cánh rừng thông.

Cô ta nhìn tôi, miệng há ra vì ngạc nhiên, rồi mặt cô ta rạng rỡ hẳn.

– Dirk! Sao lại có chuyện lạ thế này!

– Sức khỏe cô thế nào rồi? – Tôi hỏi rồi đặt quyển sách và hoa xuống cái bàn ở bên cạnh cô.

– Rồi cũng ổn thôi. Qua cơn nguy kịch rồi, bác sĩ Vance sẽ cho em xuất viện ngày mai.

– Thật thế ư? Sao sớm thế?

Peggy cười.

– Thì em có phải nghiện rượu thật đâu, trông bên ngoài có vẻ thế thôi. Em đau buồn là đau buồn vì tình kia.

Tôi ngồi xuống bên cạnh cô.

– Thật là một tin tốt lành. Thế nỗi đau buồn vì tình của cô ra sao rồi?

– Hai giờ trước, cô y tá đã cho em biết rằng hắn ta đã chết rồi. Thậm chí em không nhỏ một giọt nước mắt nào. Thế mà em cứ tưởng mất trí vì ông ta.

– Ở tuổi cô, tôi cũng đã từng mất trí vì một cô gái, – tôi nói dối. – Phải mất một thời gian mới nguôi ngoai được, nhưng rồi sẽ qua.

– Ba em có khỏe không?

– Chắc sẽ khỏe hơn nhiều nếu cô về nhà. Hiện thời, không có cô, ông nhà phải trông nom khách sạn cũng vất vả.

– Em cũng chắc vậy. Tội nghiệp ba em! Anh nói giúp với ba em là mai em xuất viện, được không?

– Tất nhiên rồi.

– Không hiểu khách sạn có bán được không?

– Không có Weathrspoon, thể nào chả tìm được người mua khác.

Cô gái gật đầu.

– Em rất muồn rời Searle. Ở đây chẳng ai yêu em cả.

– Hãy tới gặp ông Wallis Pollack. Ông ta có thể tìm cho cô một người mua.

– Đúng. Nhưng dù sao cũng phải đợi cho ba ra đi đã.

– Peggy này, tôi nghĩ là cô có thể giúp tôi. Càng tìm kiếm Johnny, cuộc điều tra chúng tôi càng trở nên phức tạp. Cô có thể cho tôi biết những chuyện đã xảy ra giữa cô và Weatherspoon được không?

– Giữa Harry và Johnny thì có quan hệ gì? – Cô ta nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên.

– Tôi cũng không biết. Tôi như người đi câu ấy mà. Cứ thả mồi xuống nước với hy vọng rằng một con cá nào đó sẽ cắn câu. Lần đầu tiên cô gặp ông ta là khi nào?

– Khoảng hai năm trước. Ông ta tới đề nghị với ba em mua lại khách sạn. Ông ta có nét gì đó khiến em mê ngay. (Cô ta giơ tay lên làm một động tác tuyệt vọng). Trời ơi, anh Dirk, bọn con gái chúng em mới nhẹ dạ làm sao!

– Đàn ông bọn tôi cũng vậy thôi.

– Rồi em yêu Harry đến mất trí. Ban đầu ông ta không mấy để ý đến em. Nhưng rồi em thấy ông ta dần dần đã tỏ ra quan tâm. Một buổi tối, ba em không được khỏe và đi nằm sớm, thì ông ta đến. Ông ta yêu cầu em cho xem căn phòng tốt nhất. Và điều gì xảy ra sau đó chắc anh đã đoán ra… (Cô gái thở dài). Ông ta đã đem lại cho em những khoái cảm tuyệt vời. Em cũng đã từng làm tình, nhưng Harry thì không ai sánh được. Ông ta làm cho em sung sướng tới mức chỉ nghĩ đến lần tiếp sau. Ở khách sạn mà làm chuyện đó thì quá nguy hiểm vì sợ ba em bắt được. Ông ta đề nghị em tới nhà ông ta. Đến đó chỉ mất mấy phút đi bộ chứ mấy. Đó là một căn hộ đẹp ngay bên trên văn phòng ông ta. Chúng em gặp nhau ba lần một tuần. Em không bao giờ thấy mệt mỏi vì ông ta.. Rồi em nhận thấy ông ta có vẻ lảng em. Một lần, ông ta tới ăn trưa ở khách sạn, mỉm cười với em và nói rằng tối nay đừng tới vì ông ta bận. Em ham muốn ông ta tới mức em phải uống một cốc rượu gin thật lớn cho quên đi, rồi đi nằm và khóc tới phát ốm. Lạy Chúa, em mới ngốc nghếch làm sao!

– Chuyện ấy cũng là bình thường thôi mà.

– Có thể! (Cô gái nhún vai). Bây giờ thế là hết. Và em thấy mừng! Sau đó mỗi tháng em chỉ được gặp ông ta một lần, nhưng rượu thì em tiếp tục uống.

– Nhưng tại sao cô lại thấy mừng, Peggy?

– Vì ở Harry có cái gì đó… khó giải thích lắm. Em có cảm giác như ông ta có dây vào những vụ buôn bán mờ ám. Đôi ba lần, vào ban đêm khi em và ông ta đang ngủ, thì điện thoại réo và ông ta đi xuống văn phòng. Nhiều lần em để ý ông ta la hét ầm ĩ trong điện thoại, có vẻ giận giữ lắm. Khi lên phòng, trông ông ta có vẻ dữ dằn và tàn ác thế nào ấy. Rồi ông ta bảo em phải đi vì ông ta có việc. Một hôm em phản đối không đi, ông ta vẻ mặt hầm hầm dữ tợn. Em sợ quá.

– Cô hãy quên hắn đi. – Tôi nói. – Hắn đã bước ra khỏi đời cô rồi.

– Chính vì thế mà em thấy mừng mà.

– Cô nói cô nghĩ rằng hắn có dây vào những vụ buôn bán mờ ám. Tại sao, Peggy?

– Em đâu có là con ngốc. Tại sao người ta lại gọi điện cho hắn vào hai giờ sáng? Tại sao ông ta lại đuổi em đi lấy cớ là có việc phải làm gấp? Và rồi lại còn chiếc xe tải tới vào lúc ba giờ sáng nữa chứ.

– Xe tải nào vậy, Peggy? – Tôi hỏi như để mà hỏi.

Cô gái lưỡng lự rồi nhún vai.

– Xét cho cùng, bây giờ hắn chết rồi, có nói ra cũng chẳng sao. Chuyện này xảy ra hồi em còn mê mẩn hắn. Có lẽ vì em uống hơi quá. Hắn đến khách sạn vào buổi tối chúng em đã hẹn để hủy bỏ hẹn đó. Dirk ạ, em đã chờ đợi buổi tối hôm đó với một sự sốt ruột kinh khủng! Em đã mơ cả về nó. Em muốn hắn sẽ bế em lên, ôm ấp em, làm cho em sung sướng. Đúng là em điên lên vì hắn. Mà tại sao em lại đi kể cho anh những chuyện này nhỉ?

– Nói được ra cô sẽ thấy nhẹ nhõm hơn, – tôi mỉm cười nói.

– Lạy Chúa, anh moi hết ruột gan em còn gì!

loading...

Vẻ mặt cô đột ngột thay đổi và tôi sợ cô sẽ mất đi sự tự tin vốn đã rất mỏng manh.

– Điều này rất quan trọng với tôi. Hãy kể về chiếc xe tải đi.

– Đây là lần đầu tiên có người tặng hoa cho em.

Tôi cố nén sự nôn nóng của mình.

– Và đây cũng không phải là lần cuối cùng! Em còn trẻ cơ mà.

Cô gái đặt bó hoa xuống rồi lật giở từng trang sách.

– Peggy, – tôi nói bằng một giọng nghiêm hơn. – Hãy kể về chiếc xe tải đi.

– Cái đêm ông ta hủy bỏ cuộc hẹn với em, em say mèm. Nằm trên giường em tự nhủ có thể là ông ta lừa em để đi với một cô gái khác. Em phải tìm ra sự thật. Em mặc quần áo rồi đi tới nhà máy. Lúc đó đã quá nửa đêm. Cổng vào rất may không khóa. Nhưng căn hộ của Weatherspoon vẫn sáng đèn. Có thể là anh không hiểu, nhưng lúc đó em bị kích thích mạnh, do có cả hơi men nữa, đến gần như phát điên. (Rồi cô ta nhìn tôi đắn đo).

– Tôi hiểu.

– Em vẫn băn khoăn không biết anh có hiểu thật không. Nói thì dễ. Mà thôi… Thực ra, em vẫn tự hỏi không biết con người ta có hiều những người khác hay không?

– Thì họ vẫn cố hiểu đấy chứ.

– Em cầm chắc rằng có một cô gái khác đang ở phòng hắn ta. Em phải biết đó là ai. Nhưng do say quá em không đủ dũng cảm đi vào để bắt quả tang. Vả lại, hắn ta có thể giết chết em, nếu em gây ầm ĩ. Em đành nấp bên ngoài. Đúng là trò tra tấn, em phải đợi hơn 3 giờ đồng hồ. Lúc đó em đã dã rượu. Em cay đắng thấy mình phải ngồi xổm sau thùng tônô chở ếch tanh tưởi, lòng tan nát vì ghen tuông. Cùng với cơn say tan dần, em cũng bắt đầu hiểu ra rằng em chỉ là con ngốc và Harry cũng chẳng là cái đinh gì. Em đang định bỏ về, thì chiếc xe tải tới. Sau khi bóp còi, một người đàn ông từ trên xe bước xuống, mở cổng. Đợi chiếc xe tải vào trong sân anh ta khóa cổng lại. Trời tối em chỉ nhìn thấy bóng người. Rồi cửa văn phòng mở và Harry bước ra. Ánh sáng từ văn phòng lọt ra và em nhìn thấy người đàn ông thứ hai trên xe bước xuống. (Cô gái run người lên). Hai gã này khiến em thấy sợ. Đó là hai gã da đen. Điệu bộ của họ lạ lắm. Họ đi theo Harry vào văn phòng. Hai mươi phút sau, họ chuyển ra những chiếc hộp các tông nhỏ và xếp lên xe. Họ làm nhanh lắm, nhưng có lẽ tới hàng trăm hộp. Sau khi xếp xong, cả hai gã da đen quay vào văn phòng. Từ chỗ nấp em nhìn rõ những gì diễn ra trong đó. Harry giao tiền cho họ, rồi họ lên xe và lái đi. Harry ra mở cổng, rồi khóa lại và trở về phòng. Một lát sau, tất cả các đèn đều tắt. Em thấy mình thật vớ vẩn, có đứa con gái nào đâu, trong khi mình lại bị nhốt trong nhà máy thế này. Sau khi tìm khắp lượt, em phát hiện thấy có cửa sau. Ổ khóa đã han gỉ mủn cả ra. Em mở cửa và đi về nhà.

– Thật là một đêm đáng ghi nhớ!

– Chính vì thế mà em nói rằng hắn có dây dưa vào chuyện buôn bán mờ ám. Anh có hiểu chuyện gì ở đây không, Dirk?

– Hãy nghe tôi, Peggy. Hắn ta đã chết rồi, em hãy quên chuyện này đi. Bây giờ hãy nói chút gì về em đi.

– Chưa bao giờ em kể cho ai như vừa kể với anh, – cô nói. – Xin lỗi, nếu em làm anh phiền lòng.

Tôi cười.

– Rồi đâu sẽ vào đấy thôi, Peggy ạ. Em đã có những phút khó khăn, nhưng giờ thì đã qua rồi. Hãy tới gặp ông Willis Pollack đi. Ông ấy sẽ tìm cho em một người mua khác. Nhưng trước mắt hãy trở về giúp cha em đã.

– Anh là người biết cảm thông nhất mà em đã từng gặp, – cô nói vẻ cảm động.

Trở về khách sạn, tôi nói với cha Peggy rằng con gái ông đã bình phục và sáng mai sẽ xuất viện.

Nghe tin đó, ông trẻ ra đến năm tuổi.

Sau bữa tối ngon lành với món súp cá, tôi lên phòng ngồi xem một bộ phim Viễn Tây cũ đầy bạo lực. Hai mươi giờ bốn nhăm bộ phim kết thúc, tôi lấy đèn pin cực mạnh, kiểm tra lại súng và đi xuống tiền sảnh. Ông già Abraham đang ngủ say sau quầy tiếp tân. Hai thương gia vẫn đang ngồi làm việc. Không ai ngước mắt nhìn tôi khi tôi bước ra đường phố vắng tanh. Ở Searle này, người ta đi ngủ khá sớm.

Đồn cảnh sát cũng chìm trong bóng tối. Bước nhanh và được bóng đêm che chở, tôi đi tới nhà máy. Tôi lần theo con đường hẹp men theo tường nhà máy và cuối cùng đã tìm được cái cửa sau mà Peggy đã kể với tôi. Tôi dừng bước và dỏng tai lên nghe ngóng. Tôi chỉ nghe thấy tiếng xe cộ chạy ầm ì phía ngoài xa lộ. Không khí nóng và ẩm làm cho mùi tanh tưởi của ếch thêm nồng nặc.

Tôi đè cả người vào cánh cửa đẩy vào. Cửa mở, tôi bước vào cái sân rộng. Toàn bộ khu nhà, cả văn phòng lẫn căn hộ của Weatherspoon đều chìm trong bóng đêm.

Tôi đi ngang qua sân, tới tòa nhà đặt các văn phòng và định mở cửa. Không ngờ cửa đã mở sẵn và tôi không khỏi thất vọng. Dưới luồng sáng của đèn pin, tôi thấy ba ổ khóa. Một ở trên cao, một ở giữa và một ở dưới thấp. Tất cả đều mở toang. Tôi đi vòng quanh nhà và phát hiện ra một cái cửa được khóa rất chắc. Tôi vòng ra sân và phát hiện một cái thang để lẫn trong cỏ. Tôi mang chiếc thang ra sau tòa nhà văn phòng, dựng vào tường và leo lên. Từ đó tôi leo xuống lan can của hàng hiên, may mắn có một cái cửa sổ để mở. Tôi rút then và dỏng tai nghe ngóng và mở toang hai cánh cửa ra. Tôi trèo vào phòng, mở cửa bước ra một hành lang tối, đẩy một cánh cửa khác và bước vào một phòng bày biện sang trọng.

Có các bậu cầu thang. Từ trên cao tôi chiếu xuống và thấy rằng cửa đã bị khóa. Đối với cái khóa này thì không thể tính chuyện dùng sức mà mở được. Thất vọng, tôi đành trở lai căn hộ của y. Tôi mở một cái tủ quần áo lớn, và lục soát tất cả các túi áo vest, nhưng không phát hiện thấy gì. Tôi tìm trong ngăn kéo, nhưng không thấy gì thú vị cả.

Cuối cùng sau hơn nửa giờ tìm kiếm, tôi mở một ngăn kéo nhỏ ở tủ đầu giường tìm được một gói capốt Anh quốc và một chiếc chìa khóa. Lòng tràn đầy hy vọng, tôi đi xuống và tra chìa vào ổ khóc. Chiếc cửa mở ra ngon lành và tôi bước vào. Tất cả các ngăn kéo đều khóa. Chỉ có những kẻ mở khóa chuyên nghiệp mới hòng mở nổi. Bỏ chiếc bàn ấy, tôi đi một vòng trong phòng và phát hiện thấy một chiếc cửa. Tôi mở ra và đi vào một lối hẹp.

Trước cửa là một thanh thép chắc có dây xich. Có hai ổ khóa. Không có chìa thì phải phá cửa mới hòng vào được.

Tôi đứng bất động nhìn cái cửa.

Rồi tôi nghe có tiếng ô tô đi tới. Tôi tắt ngay đèn pin và đi tới gần cửa sổ. Tôi nghe loáng thoáng tiếng người. Cổng nhà máy mở ra và một chiếc xe tải đi vào sân. Theo sau là một chiếc xe con tới đỗ bên cạnh.

Tôi nhìn rõ hai chiếc xe. Một gã nhỏ con, béo tròn, tôi nhận ra đó là Edundo Raiz. Hai tên khác cũng từ xe tải bước xuống. Đó là hai gã da đen đã phục nhà tôi dạo trước.

Tôi nhanh chóng mở cửa đi lên căn hộ, khóa cửa rồi lặng lẽ đi lên cầu thang. Tôi chui ra qua cửa sổ sau, leo xuống cầu thang mà tôi đặt ngay lúc trèo. Rút súng ra khỏi bao, tôi đi vòng quanh tòa nhà và dừng lại cạnh sân.

Văn phòng đã được bật sáng. Tôi nghe thấy có giọng nói. Ẩn mình trong bóng tối, tôi tiến ra sân và khi thấy đống thùng tônô chở ếch, tôi nấp vội vào đó. Có lẽ Peggy cũng đã từng nấp ở đây, từ chỗ này, có thể nhìn rất rõ những gì diễn ra trong văn phòng.

Một lúc sau Raiz đến bên bàn với một chùm chìa khóa trong tay. Ngồi vào bàn, y lần lượt mở các ngăn kéo.

Rồi gã mặc áo da dê bước ra, tay bê khệ nệ những chiếc hộp các-tông đến chiếc xe tải và xếp hàng vào đó. Tôi quan sát Raiz. Hắn xem xét cả đống giấy tờ vừa lấy ở một ngăn kéo và xem vội vã, thi thoảng lại để riêng một tập ra bên cạnh. Raiz lại mở một ngăn kéo khác lấy ra một tập giấy tờ nữa, xem xét rồi đặt chúng nó cũng vào chỗ giấy tờ y để riêng. Sau khi đã mở hết các ngăn kéo khác, xem qua, hắn đóng sầm lại. Tôi nghĩ hắn đã tìm được những thứ cần tìm.

Đoạn, hắn đứng dậy và tôi nghe thấy hắn hét:

– Thế nào, chúng mày còn chưa xong à?

Tôi chợt nhận ra đây là cơ may duy nhất của tôi. Tôi lập tức rời chỗ nấp nhảy tới sau chiếc xe tải, cuỗm gọn một hộp rồi lấy hết tốc lực chạy lại nấp sau những cái thùng chở ếch. Tất cả chưa hết ba giây.

Đúng lúc tôi vừa ngồi thụp xuống thì hai gã da đen lại lặc lè bê tiếp các hộp các-tông ra. Raiz rút khăn mùi soa lau kỹ các ngăn kéo và mặt bàn. Raiz cầm tập hồ sơ giấy tờ, tắt đèn, bước ra khóa cửa lại và rảo bước tới chỗ đỗ chiếc xe con.

– Dông thôi, – gã nói với hai tên kia.

Chiếc xe tải ra khỏi sân thì dừng lại, gã mặc áo da dê nhảy xuống khép cổng và tôi nghe thấy tiếng khóa bập lại. Tôi ngồi im sau đống thùng chở ếch tanh nồng nặc và hai tay ôm chặt chiếc hộp các-tông. Tôi đợi cho tiếng xe im hẳn, mới dám cử động.

Tôi đi ra theo lối cửa hậu và rảo bước về khách sạn.

Ông già Abraham tay đặt trên gối vẫn đang ngủ ngon lành. Tôi lay nhẹ để đánh thức ông dậy. Ông hé mắt nhìn tôi rồi chớp mắt ngồi thẳng dậy.

– Chắc là tôi vừa mới thiếp đi được một lúc. Anh có cần gì không?

– Tôi muốn một cái mở hộp.

– Anh bảo sao?

– Tôi muốn một cái mở hộp. Ông có không?

– Mở hộp à?

– Đúng thế, một cái mở hộp, – tôi nói một cách bình thản.

Ông già ngoài tám mươi này chắc vừa qua một giấc mơ ngọt ngào về quá khứ, về con cháu nên chưa tỉnh hẳn.

– Tôi cần một cái mở hộp, – tôi cố ý nói thật to.

– Để tôi đi kiếm cho anh. Anh có đói không? Tôi sẽ nấu cái gì đó cho anh ăn.

– Khỏi cần. Chỉ cần mang cho tôi chiếc mở hộp.

Ông già nặng nhọc đứng dậy, rồi lê chân đi vào nhà ăn. Tôi đứng đợi, năm phút sau Abraham quay lại.

– Bà đầu bếp chắc không đồng ý đâu, – ông nói và chìa cho tôi chiếc mở hộp đã han gỉ. – Vào giờ ăn sáng ngày mai, anh phải trả cho tôi đấy nhé.

– Ông yên tâm. Cám ơn ông Abraham. Ông ngủ tới mấy giờ?

– Ông Wvatt muốn mở cửa suốt đêm. Ông ấy bảo rằng làm sao biết khách đến lúc nào. Nhỡ có ai đó muốn trú đêm thì khách sạn phải phục vụ chứ.

– Chúc ông ngủ ngon, – tôi nói và vỗ nhẹ vào vai ông.

Tôi nhanh chóng vào thang máy và lên phòng. Tôi châm thuốc và khóa trái cửa lại rồi đặt chiếc hộp lên bàn. Đó là một hộp các-tông cứng rộng hai mươi, dài hai mươi và cao mười centimét. Bên trên có dán tấm nhãn:

Sản phẩm của nhà Morgan & Weatherspoon

Searle Florida

Gửi bà: Lucilla Banbury

1445 West Drive

Los Angeles

Tôi dùng con dao con rạch lớp băng dính trên hộp các tông và mở nắp ra. Hai hộp đồ hộp bằng kim loại sáng loáng được đặt cẩn thận trong hai ngăn. Tôi lấy ra một hộp và đọc tấm nhãn.

Đùi ếch

Đặc sản cao cấp. Làm theo hướng dẫn quí vị sẽ có một món ăn nhanh và ngon cho hai người.

Bản hướng dẫn sử dụng chính là những điều mà cô Cloe Smith đã cho tôi biết.

Tôi dùng cái mở hộp mở nắp, và nhìn thấy bên trong những chiếc đùi ếch tẩm bột rán vàng ươm xếp rất đẹp mắt. Trông đã thấy ngon rồi. Tôi dùng lưỡi dao nhíp lách tìm xung quanh hộp và tìm được một túi nylon nhỏ chứa đầy một chất bột màu trắng. Tôi lấy nó ra khỏi hộp và đưa vào phòng tắm rửa sạch.

Tôi đã ngờ về thứ bột trắng này, nhưng tôi muốn thật chắc ăn. Tôi đặt túi bột vào ví rồi cầm lấy chiếc hộp trên bàn và mặc dù rất tiếc, đổ hết vào hố xí cùng với cái nhãn hộp rồi xả nước.

Đoạn tôi mở cửa sổ, và khi tin chắc không có ai trên đường phố, tôi lấy sức quẳng chiếc hộp ra thật xa. Tôi đậy nắp hộp các-tông, bên trong chỉ còn duy nhất một hộp đùi ếch, và đặt nó vào tủ quần áo. Cho dù chưa tìm được Johnny, nhưng ngày làm việc của tôi quá ư là hiệu quả.

Tôi tắm rửa và lên giường đi ngủ.

Mục lục
loading...