Menu

VỤ GIẾT NGƯỜI BÍ ẨN-Chương 14


Vụ Giết Người Bí Ẩn


Tác giả: James H. Chase


Chương 14

Tôi gọi điện cho cảnh sát trưởng Mason trong một cabin điện thoại bên đường cái. Bill Anderson nhanh chóng nhấc máy.

– Bill hả? Mình báo cho cậu biết là ngôi nhà của Fred đã bị đập phá tan hoang, – tôi nói. – Mình nghĩ rằng cần phải báo cho các cậu biết.

– Đập phá tan hoang kia à?

– Đúng thế.

Im lặng một lúc lâu rồi Bill hỏi tôi:

– Hãy tha lỗi cho tôi, Dirk ạ. Anh đang làm gì ở đó thế?

– Mình buồn quá, chợt thấy quan tâm tới lũ ếch.

– Tôi sẽ tới đó ngay.

– Chính vì thế mà mình gọi cho các cậu. Nhớ đưa cả Mason, bác sĩ Steed, xe cấp cứu và hai người thật khỏe mang ủng lội bùn đấy.

– Anh nói sao?

– Mình quên chưa nói với cậu chi tiết này. Harry Weatherspoon đang uống no bùn trong đầm nuôi ếch. Chắc là hắn ngoẻo rồi và lũ ếch chẳng tỏ ra đau buồn gì. (Tôi gác máy).

Tôi quay lại ngôi nhà của Fred, ngồi xuống chiếc ghế dưới bóng râm và chờ đợi.

Một giờ sau mới thấy xe của cảnh sát trưởng rẽ vào con đường hẹp. Bill Anderson ngồi sau tay lái, Mason và bác sĩ Steed ngồi ở ghế sau. Trong chiếc xe cứu thương chạy phía sau có hai người da đen cao lớn và hai người da trắng mắc quần áo bảo hộ.

Tôi tiến tới đón mọi người xuống xe. Cảnh sát trưởng Mason vẫn còn đang ngà ngà, chân đứng không vững. Bác sĩ Steed có vẻ hơi lo lắng. Bill Anderson mặt vẫn chưa hết ngạc nhiên.

– Trước hết ta hãy xem qua trong nhà đã, – tôi nói. – Ông Weatherspoon cũng chẳng có gì phải vội.

Sau khi nhìn tôi với ánh mắt ngờ vực, Mason và Steed cùng bước vào nhà.

– Cậu cũng nên vào xem, Bill ạ.

Anderson liền nhập bọn với hai người kia.

Người da đen nhìn tôi và nói:

– Một nạn nhân mới à?

– Đúng thế. Anh ta ướt sũng rồi. Nếu anh có vải mưa thì hãy lấy ra đi.

Ba người trong nhà đi ra.

– Chà… chà…, – bác sĩ Steed lẩm bẩm. – Cái bọn trẻ bây giờ đúng là lũ phá hoại. Chúng không còn coi ai ra gì nữa.

– Ông nghĩ sao, Mason? – Tôi hỏi.

Mason chớp mắt và gật đầu.

– Đ… úng thế, bọn phá hoại.

– Các ông có cảm thấy bọn nó tới đây là để tìm kiếm cái gì đó không?

– Bọn phá hoại thôi! – Mason nhắc lại.

– Thế còn ông Weatherspoon thì sao? – Bác sĩ Steed hỏi. – Anh nói ông ta chết rồi phải không?

– Đó mới chỉ là cảm tưởng của tôi thôi, biết đâu các ông có thể nghĩ rằng ông ta giả vờ cũng nên. (Tôi quay sang người đi ủng). Các anh cần phải tìm một cái sào có móc.

Người này nhìn tôi toét miệng cười.

– Tôi có một cái rồi, – anh ta lấy từ xe cứu thương ra một chiếc sào dài.

Một người đi ủng nữa cũng lấy xuống một mảnh vải mưa lớn. Xem ra Anderson cũng khá tháo vát.

Rồi tôi dẫn đầu đoàn người đến đầm. Mason có vẻ khó nhọc lê bước theo con đường hẹp.

Những con ếch lại nhảy lên ngồi trên xác Weatherspoon như trên một cái bè. Thấy chúng tôi tới, chúng lại nhảy hết xuống đầm. Cuối cùng, bác sĩ Steed lên tiếng:

– Tội nghiệp ông ta. Thật là kinh khủng! Thôi nào, các anh, hãy vớt ông ta lên đi.

Hai người cứu thương trải tấm vải mưa xuống đất, còn hai người đi ủng lội xuống kéo xác Weatherspoon vào. Họ đặt ông ta lên tấm vải mưa rồi lùi lại.

Tôi vẫn đứng nguyên tại chỗ nhìn cái xác. Miệng và lỗ mũi ông ta chứa đầy bùn nhão xanh lét. Tay phải ông ta nắm chặt một vật dài và đầy lông lá cuốn xung quanh cổ tay ông ta.

– Lạy Chúa, Larry! – Mason kêu lên khi nhìn Weatherspoon. – Chuyện gì đã xảy ra thế này?

– Cho tôi mấy phút nào, Tim. – Ông bác sĩ Steed bình tĩnh nói.

Ông quỳ xuống, xem xét đầu Weatherspoon, rồi nhìn xung quanh và gật đầu.

– Chết do tai nạn, Tim ạ. – Ông nói. – Chuyện này hiển nhiên như mũi ở giữa mặt người.

Tôi bèn tới gần viên bác sĩ.

– Ông ta cầm gì ở tay thế kia? – Tôi hỏi.

Tôi quỳ xuống, cầm lấy vật đó và nhẹ nhàng gỡ ra trong khi Steed đứng quan sát tôi.

– Một bộ tóc giả! – Tôi kêu lên và giơ cao mớ tóc vàng ướt sũng.

Đúng là một bộ tóc giả rất bình thường mà người nào cũng có thể mua ở bất cứ cửa hiệu nào.

– Không có gì quan trọng cả, – bác sĩ Steed nói. – Thật tội nghiệp.

Mason bước lên lắp bắp:

– Có phải chết do tai nạn không, Larry?

– Không còn nghi ngờ gì nữa! Thì cứ nhìn đây này, – ông nói và chỉ những cái rễ cây mọc đâm xuống tận đầm. – Có một vết bầm máu bình thường ở gáy ông ta. Rõ ràng là ông ta bị trượt chân ngã, đập đầu vào rễ cây, lăn xuống nước và chết đuối. Nghĩa là chết vì tai nạn.

Cảnh sát trưởng thở phài nhẹ nhõm.

– Thế thì khỏi cần báo cảnh sát bang, hả?

– Trong trường hợp chết do tai nạn thì khỏi cần, – bác sĩ Steed khẳng định. – Thôi nào, các chàng trai, hãy đưa ông ta về nhà xác. Tôi sẽ tới đó ngay.

– Ấy, đi đâu mà vội, – tôi nói. – Cần phải kiểm tra các túi ông ta đã.

– Tôi sẽ làm điều đó ở nhà xác.

– Tốt nhất là nên làm khi có mặt mọi người làm chứng. (Tôi quay sang Anderson). Cậu hãy lục soát các túi xem.

Anderson lưỡng lự. Nhưng thấy cảnh sát trưởng không nói gì, anh ta quỳ xuống cạnh cái xác và nhanh chóng lộn hết các túi trên người Weatherspoon. Tất cả chỉ có một bao thuốc đã ướt sũng, một cái bật lửa bằng vàng và một cái ví có hai trăm đô tiền lẻ.

Anderson lập danh sách các vật mà anh ta đã tìm thấy trong túi Weatherspoon rồi đưa cho bác sĩ Steed.

– Vết thương là do đập vào rễ cây này, phải không bác sĩ? – Tôi hỏi.

Steed gật đầu

– Điều đó không còn nghi ngờ gì nữa.

– Thế nhỡ có ai tới từ phía sau và đập vào gáy ông ta thì sao?

Sau một lát im lặng, viên cảnh sát trưởng nói:

– Anh đã nghe bác sĩ Steed nói rồi đấy. Cho phép tôi báo cho anh biết bác sĩ đây hành nghề từ khi anh còn chưa đẻ kia. Tôi không cần bận tâm tới nhận xét của anh. Mà anh đã làm gì ở đây?

– Tôi đi tìm Johnny Jackson, – tôi đáp. – Thế ông tự hỏi Harry Weatherspoon tới đây làm gì chưa?

– Ông ta muốn mua trang trại này. Ông ta tới đây để xem thực trạng ra sao. Chuyện đó cũng tự nhiên thôi, phải không?

– Đúng thế. Nhưng ông ta tới đây xem và mang cả rìu theo.

Viên cảnh sát trưởng nổi cáu.

– Anh đi đi, anh không có quyền ở đây. Anh chỉ gây chuyện những chuyện rắc rối.

– Ông có tự hỏi Weatherspoon tới đây bằng cách nào không? Không có xe của ông ta ở đây. Hay là ông ta đi bộ tới?

Nói xong, tôi đi về phía ngôi nhà để mặc cho Masoon và Steed lúng túng nhìn theo.

Tôi tính toán rằng phải mất một thời gian người ta mới gói xong và chở cái xác đi. Ra khỏi tầm nhìn của họ, tôi vùng bỏ chạy. Tới ngôi nhà tôi lẻn vào. Trước hết phải tìm cho ra chiếc rìu, sự đập phá chỉ có thể làm bằng dụng cụ này.

Sau hai ba phút, tôi tìm thấy nó được giấu trong đám vật liệu nhồi ghế phô-tơi. Đó là một chiếc rìu cán ngắn, lưỡi khá sắc. Tôi cuộn tay trong chiếc mùi soa rồi cầm lưỡi nhấc lên và kiểm tra phần sống rìu. Không có kết quả gì. Tôi chợt thấy trên cán rìu có một cái nhãn nhỏ ghi: “Tài sản của nhà Morgan và Weatherspoon”. Tôi đặt chiếc rìu vào nơi Anderson có thể nhìn thấy, rồi đi ra khỏi nhà và vòng ra phía sau.

loading...

Quay về chỗ bóng cây. Tôi thấy một chiếc xe máy Honda. Tôi nghĩ đây là chiếc xe mà Weatherspoon đã đến đây. Tôi cũng cho rằng ông ta tới đây có mang theo cả rìu và dùng nó đập phá một cách hệ thống trong nhà. Ông ta tìm kiếm gì? Rõ ràng ông ta chỉ tìm thấy một bộ tóc giả màu vàng. Tôi nhớ Abe Levi nói ông ta thấy ở nhà Fred có một cô bé tóc vàng. Và người ta cũng nói Johnny là một đứa ái nam ái nữ. Johnny có thể mua mua tóc giả ở Searle và đội nó vào những ngày ông già Fred không ở nhà và bất chợt bị Levi nhìn thấy.

Điều này giải thích được sự có mặt của cô gái bí ẩn. Wally hoàn toàn có lý khi nói rằng nếu Levi thấy đứa con gái ở nhà Fred thì chỉ có thể là Johnny.

Khi đi ra con đường hẹp dẫn tới chỗ đỗ xe, bất chợt tôi nảy ra một ý. Đó là có thể Weatherspoon sau khi phát hiện ra một thứ khác ngoài bộ tóc giả đã bị tên theo dõi giết chết. Liệu có phải hắn cũng là tên giết Jackson không?

Tôi quyết định tiếp tục đào bới cho tới khi Parnell trở về. Tôi sẽ báo cáo với ông tất cả những điều tôi biết và để ông ấy quyết định.

***

Tới Searle, tôi đậu xe trước khách sạn và đi vào. Mọi người có mặt ở đó đều nhìn chằm chằm tôi và xì xào bàn tán. Hàng chục người đang ngồi ăn cũng nhìn tôi với ánh mắt đầy hy vọng.

Tôi gọi một chiếc bánh sandwich nhồi thịt gà và dăm bông cho vào một cái túi.

– Chuyện xảy ra với ông Weatherspoon thật khủng khiếp! – Một người hầu bàn nói.

Tất cả mọi người đều dừng ăn và dỏng tai nghe.

– Có ai sống mãi được đâu, – tôi đáp và không ngạc nhiên là tin tức đã loan về đến Searle, rồi tôi trả tiền.

– Xin lỗi, ông Wallace, – một người nhỏ thó đang nhồm nhoàm nhai nói. – Tôi nghe là ông đã phát hiện ra xác của ông Weatherspoon, phải vậy không?

– Nếu đó không phải là ông ta thì là ai đó mặc quần áo của ông ta, – tôi nói rồi bước ra.

Tôi phóng xe tới nhà máy Morgan và Weatherspoon, đậu xe trước cổng, rồi đi tới kho chế biến. Tôi thấy Levi ngồi ăn trong cái vỏ hộp như lần trước. Ông già Levi vẫy tay gọi tôi. Tôi đi tới và ngồi xuống cạnh ông.

– Bác vẫn thích món đậu hay cùng ăn bữa trưa với cháu? – Tôi hỏi và mở cái túi giấy ra.

– Bánh mì à? Không bao giờ. Tôi thích món đậu này hơn. Đã hơn hai mươi năm nay tôi chỉ ăn món này.

Tôi đành rút bánh ra nhai.

– Ông chủ đã bị ngã xuống đầm nuôi ếch và chết đuối, phải không? – Levi hỏi và dùng thìa vét thức ăn trong hộp.

– Đúng thế. Nhưng rồi nhà máy sẽ ra sao?

– Tôi cóc cần biết. Tôi sẽ xin về hưu. Tôi cũng ngán đi thu gom ếch lắm rồi. Tôi có một bà vợ hiền thục, một ngôi nhà đàng hoàng và một ít tiền để dành. Thế thì can cớ gì tôi phải lo cho số phận nhà máy.

– Weatherspoon có vợ con gì không?

Một ánh nhìn tinh quái lại lóe lên trong mắt ông già.

– Anh lại cần thông tin phải không?

Tôi đáp đúng thế.

– Thế thì chi hai mươi đô đây, sự tò mò của anh sẽ được thỏa mãn.

Thời gian rất gấp rút. Tôi mở ví lấy ra tờ năm đô và đưa cho ông.

– Để xem bác có thỏa mãn được sự tò mò của cháu hay không.

– Anh hỏi tôi, ông chủ có vợ con gì không, đúng thế không?

– Này bác Levi, đừng có chơi trò mèo vờn chuột nữa. Bác sẽ có hai mươi đô nếu bác cung cấp đúng thông tin mà cháu cần. Weatherspoon có vợ con gì không?

– Không. Nhưng ông ta ngủ khắp lượt. Với cả con Peggy ông ta cũng không thạ Con bé cứ nghĩ ông ta cưới nó đến nơi, nhưng ông ta đâu có phải loại người làm chồng, thế mà con bé cứ hoắng cả lên.

– Bác có biết ai sẽ là người thừa kế nhà máy này không?

– Tôi nghĩ là chẳng có ai. Weatherspoon là người độc thân. Nhà máy này có giá lắm đấy. Khi mua lại của Morgan, ông chủ mới bắt đầu cho đóng hộp ếch. Nhờ thế, ông ấy cung cấp đùi ếch cho hầu hết các khách sạn sang trọng và hốt bạc.

– Ếch đóng hộp? Thế mà cháu không biết người ta đóng hộp cả ếch kia đấy, – tôi nói vẻ chế nhạo. – Người ta chỉ ướp lạnh đùi ếch, chứ ai lại đóng hộp bao giờ.

– Anh còn lạ gì, Wallace. Phụ nữ bây giờ lười nhác lắm. Họ cho chồng con ăn toàn đồ hộp thôi. Riêng tôi vẫn thích đậu Hà Lan đóng hộp.

– Thế ra ông ta đã xây dựng cả một nhà máy đóng hộp ếch.

– Thì chứ sao. Đây không phải là chỗ của tôi. Tôi chỉ chuyên đi thu gom ếch thôi. Còn xưởng đóng hộp dưới kia kìa. Phụ trách nó là một cô gái thông minh lắm. Cô ta lo chuyện này từ khi ông chủ mua nhà máy. (Ông ta nhìn tôi hỏi). Anh có muốn biết thêm nữa không?

– Nếu bác muốn có mười lăm đô còn lại thì phải nói thêm nữa.

Ông già vét hết số đậu còn lại trong hộp, rồi nói:

– Ông chủ là tay bẩn thỉu lắm. Ông ta lúc nào cũng chạy theo đồng tiền. Ông ta lập cả một băng găngxtơ nữa kia. (Ông già lại nhìn tôi). Mà không hiểu tại sao thứ năm nào ông ta cũng cưỡi Honda đi và trở về với cái túi da buộc phía sau. Tôi thường gặp ông ta đi và khi tôi đang dỡ hàng thì ông ta về. Thi thoảng còn có một tay Mêhicô cũng lai vãng đến đây. Họ thì thầm bí mật trong văn phòng ông chủ. Cứ như buôn bạc giả ấy.

– Gã Mêhicô ấy trông thế nào?

– Một thằng bẩn thỉu với hàng ria mảnh. Tháng nào hắn cũng tới. Rồi có một gã nữa đi chiếc xe Jaguar. Tôi chỉ gặp hắn một lần. Hôm đó tôi sửa xe tới tối muộn. Tôi thoáng thấy hắn và không hiểu hắn là ai. Tôi nghe thấy hắn to tiếng với ông chủ.

Tôi đưa thêm cho ông mười đô nữa.

– Hắn nói những gì?

– Tôi không nhớ chính xác. Chỉ nhớ là chuyện tiền bạc gì đấy. Hắn hét: “Trả đi”. Sau đó không thấy ầm ĩ nữa. Tôi không quan tâm đến chuyện của họ, tôi đang sửa xe mà.

– Thế cô gái phụ trách xưởng đóng hộp tên gì?

– Cloe Smith. Anh có định nói chuyện với cô ấy không, Wallace?

– Tại sao lại không?

– Đừng có đút tiền cho cô ấy đấy. Đối với một người da đen thì cô ấy thuộc loại khá giả rồi.

– Xin nghe lời bác.

Tôi đưa nốt năm đô dự trữ cho ông già.

– Nếu cháu nghĩ thêm được ý gì, cháu sẽ tìm bác.

Tôi chia tay ông già Levi rồi đi vào nhà kho cuối sân. Tôi mở cửa bước vào một căn phòng dài và hẹp. Cạnh cửa sổ là một dãy vỏ hộp chưa đóng. Trong góc có một thiết bị hàn và cả đống nắp vỏ hộp.

Một cô gái da đen cao lớn từ phòng bên cạnh bước ra và chòng chọc nhìn tôi. Cô ta rất đẹp. Người cân đối, nước da đen như mun và khuôn ngực căng tròn. Trông cô chỉ trạc độ trên dưới ba mươi.

– Cô Smith? – Tôi hỏi và mỉm cười thân thiện.

Từ chỗ râm, cô bước ra chỗ có ánh nắng xuyên qua các cửa sổ.

– Đã đến giờ đóng cửa rồi, – cô nói bằng một giọng nghiêm nghị nhưng du dương.

– Tôi chỉ muốn hỏi cô hai ba câu hỏi thôi. Tôi là Dirk Wallace.

Cô gái gật đầu.

– Có báo cho cô tin buồn này chắc cũng vô ích thôi, cô Smith ạ. Vì ở Searle này tin tức lan truyền nhanh kinh khủng.

Lại gật đầu.

– Cô có biết Johnny Jackson không?

– Không.

– Chắc là cô biết tôi đang tìm anh ta chứ?

– Tôi có nghe nói.

– Cô Smith ạ, biết đâu cô có thể giúp được tôi cũng nên. Vì ông Weatherspoon muốn mua trang trại của Jackson mà. Người ta nói với tôi là ông chủ của cô bán ếch cho các khách sạn, nhưng tôi lại không biết ông ấy cho đóng hộp.

Cô gái nhìn tôi dò xét và suy nghĩ.

– Thế thì có quan hệ gì đến Johnny Jackson?

Tôi cố nở một nụ cười cầu thân.

– Tôi cũng không biết. Nghề của tôi là tìm kiếm thông tin mà. Đôi khi thông tin này lại xác nhận một thông tin khác. Ông Weatherspoon có bán nhiều ếch đóng hộp không?

– Không. Chúng tôi chỉ bán khoảng năm trăm hộp mỗi tháng. Nhưng ông Weatherspoon nói đó mới chỉ là bắt đầu thôi. Tôi nghĩ chắc sẽ còn tăng nữa.

– Cô có thể cho tôi biết cách chế biến không?

Cô gái nhún vai.

– Ếch được đưa đến chỗ chúng tôi từ phân xưởng ở đầu kia. Chúng được tẩm bột rồi đem rán và sau đó đóng hộp. Khách hàng chỉ việc mở hộp đặt trên đĩa rồi hâm nóng trên bếp chỉ mười lăm phút là ăn ngon lành.

– Chỉ có thế thôi sao?

Mục lục
loading...