Menu

ER­AGON – CẬU BÉ CƯỠI RỒNG FULL 4 TẬP-Quyển 2.Chương 43


Er­agon – Cậu Bé Cưỡi Rồng Full 4 Tập


Tác giả: Christo­pher Paoli­ni


Q.2 – Chương 43: Bay Tới Thủ Đô Aberon

Bên dưới Saphi­ra, những cánh rừng trải mênh mông về bốn hướng chân trời. Én quạ và những loài chim của rừng già bay lượn, hốt hoảng kêu lên khi thấy Saphi­ra. Ả rồng bay gần sát ngọn cây, để tránh cho Er­agon và ông lùn Orik khỏi cái giá lạnh bắc cực trên độ cao đụng trời.

Ngoài lần chạy trốn Ra’zac vào núi Spine, đây là lần đầu tiên Saphi­ra mới có dịp cùng ông anh Er­agon thoả thuê bay bổng đường dài thăm thẳm mà không bị người đồng hành trên mặt đất làm phiền. Saphi­ra đặc biệt thích thú chuyến đi này và không ngừng khoe nhờ sự hướng dẫn của rồng vàng Glae­dr mà sự chịu đựng và sức lực của mình cải tiến rất nhiều.

Ông lùn Orik lên tiếng bảo Er­agon:

– Tôi thì chẳng bao giờ có thể thấy thoải mái khi ở tít trên trời thế này nổi, nhưng tôi hiểu vì sao cậu và Saphi­ra lại khoái bay đến vậy. Bay bổng làm người ta cảm thấy hoàn toàn tự do, cứ như con ó tung cánh săn mồi. Nhưng nó cứ làm tim tôi đập như đánh trống vậy.

Để bớt nhàm chán, ông lùn chơi trò ra câu đố với Saphi­ra. Trò này Er­agon đành rút lui, vì chưa bao giờ nó tỏ ra có biệt tài với những câu hỏi rắc rối này. Như hầu hết loài rồng, cô em rồng thì lại mê tít trò chơi câu đố.

Orik nói:

– Nhưng tôi chỉ biết những câu đố của người lùn thôi. Sẽ cố gắng dịch sao cho dễ hiểu một chút vậy. Đây, nghe nhé:

“Còn trẻ mình cao

Về già mình thấp

Cho đời anh sáng

Hơi thở của thần Urur

Chính là kẻ thù của mình”

Saphi­ra phản đối: “Không công bằng. Tôi có biết gì tên mấy vị thần của ông đâu.”

Er­agon không phải lập lại lời ả rồng, vì Orik đã đồng ý để Saphi­ra truyền trực tiếp ý nghĩ vào tâm tưởng ông ta.

Orik ha hả cười:

– Chịu thua rồi sao?

“Không bao giờ.”

Trong mấy phút chỉ còn tiếng vỗ cánh của cô rồng, rồi nó vụt hỏi: “Cây nến! Đúng chưa?”

– Chính xác. Giỏi.

Ả khoái chí khịt mũi làm một làn khói đen bay ngược lên mặt ông lùn và Er­agon: Mấy câu đố về đồ vật này khó thấy mồ. Từ khi ra khỏi trứng, tôi đã được vào trong một ngôi nhà bao giờ đâu. Nào, bây giờ nghe đây: Lá gì chữa bệnh đau đầu, cửu ngái đích thị là loài thuốc tiên. Là cây gì?

Đến lượt ông lùn giãy nảy lên:

– Không công bằng. Không phải ngôn ngữ của ta, làm sao ta biết cách chơi chữ kiểu này được?

“Ha ha! Cửu ngái đích thị là ngải cứu. Dễ ợt.”

Cứ vậy, Orik và Saphi­ra vừa cãi nhau vừa đưa ra những câu đố càng lúc càng hóc hiểm trong khi Du Welden­var­den khuất dần phía sau. Khoảng trống của cành lá bên dưới đã để lộ ra nhiều dòng sông lấp lánh như bạc luồn lách trong rừng già. Chung quanh Saphi­ra cuồn cuộn những đám mây tạo nên những hình dáng kỳ ảo: mái vòm uốn lượn, trụ cột vươn cao, lâu đài sừng sững… làm Er­agon tưởng như đang bay bổng trong mơ.

Sâm sẩm tối, đã thấy những cánh đồng nâu đỏ, ngăn cách giữa rừng và sa mạc Hadarac. Saphi­ra hạ xuống giữa bãi cỏ, rồi tất cả vây quanh một đống lửa nhỏ, chỉ thì thầm vài câu thực sự cần thiết. Vì giữa nơi trống trải này, âm thanh của lời nói rất dễ bị phát hiện.

Lợi dụng lúc này, Er­agon nạp năng lượng vào viên hồng ngọc trên thanh Zar’roc. Viên ngọc tiếp nhận nội lực của cả Saphi­ra khi nó truyền sang. Er­agon cảm thấy phải cần cả mấy ngày mới nạp đầy năng lượng cho cả viên hồng ngọc và mười hai hạt kim cương trong chiếc đai lưng của Be­loth Khôn-​Ngoan.

Mệt mỏi vì việc chuyển nội lực sang viên ngọc, Er­agon cuốn mền nằm xuống bên Saphi­ra và chìm vào giấc ngủ tỉnh đầy những ảo ảnh hiển hiện trên nền trời đầy sao.

&nb­sp;

Sáng sớm hôm sau tất cả lại tiếp tục lên đường. Cỏ thưa thớt dần cho đến khi bên dưới, đất khô cằn trong nắng, chỉ lác đác vài cây cỏ đủ sức chịu đựng nổi vùng đất khắc nghiệt này. Những đụn cát đỏ xuất hiện. Từ trên Saphi­ra, Er­agon thấy những đụn cát như những dợn sóng trải dài vô tận.

Khi mặt trời sắp lặn, Er­agon thấy một cụm núi xa xa về hướng đông và nó biết đó chính là Du Fells Nán­goroth, nơi rồng kết bạn, nuôi con và chết dần mòn tại đó. Saphi­ra nhìn theo ánh mắt Er­agon, bảo: “Sẽ có ngày chúng mình phải tới thăm nơi đó.”

Đêm xuống, Er­agon cảm thấy chung quanh còn cô quạnh hơn đêm trước, vì đang cắm trại trong một nơi hoang vu nhất sa mạc Hadarac. Không một chút hơi ẩm, môi nó nứt nẻ dù đã thoa sáp nal­gask của thần tiên. Er­agon nhận ra dưới đất gần như không có sự sống, chỉ vài loài cây rải rác, một ít côn trùng, vài con thằn lằn.

Khi Er­agon lấy nước từ cát khô – giống như nó đã làm trong chuyến trốn khỏi Gil’ead qua sa mạc – để dự trữ trong mấy túi da, trước khi nước cạn kiệt, nó thu hình Na­sua­da để biết tình hình Var­den. Er­agon nhẹ lòng thấy chưa có gì xảy ra.

&nb­sp;

Ngày thứ ba kể từ khi rời khỏi Ellesméra, gió nổi mạnh từ phía sau, đẩy Saphi­ra nhẹ nhàng tiến xa hơn trên suốt đoạn đường còn lại vượt qua sa mạc Hadarac.

Gần ra khỏi vùng đất hoang vu, Er­agon thấy một đoàn du mục, trong những bộ áo trùm kín mít để tránh nóng, đang di chuyển trên mình ngựa. Họ vung gươm giáo về phía Saphi­ra quát tháo rầm rầm, nhưng không ai dám bắn lên một mũi tên.

Er­agon, Saphi­ra và ông lùn Orik nghỉ đêm tại cuối rừng, là cực nam của cánh rừng Gỗ Bạc nằm bên hồ Tu­dosten. Mang tên rừng Gỗ Bạc, vì rừng này chỉ toàn là sồi, liễu, bạch dương. Trái ngược với ánh sáng lờ mờ dưới những cây thông ủ ê của Du Welden­var­den, rừng Gỗ Bạc tràn ngập ánh nắng rực rỡ, tiếng chim ca hót và tiếng lá xanh xào xạc. Er­agon cảm thấy yêu thương cây cỏ mơn mởn đầy sức sống tại đây. Và dù không còn chút dấu vết nào của sa mạc, nhưng không khí ấm áp hơn thời tiết nơi khác trong cùng mùa này. Giống mùa hè hơn là đang xuân.

&nb­sp;

Từ rừng Gỗ Bạc, Er­agon thu thập thông tin từ loài chim, hướng dẫn cho Saphi­ra bay thẳng tới thủ đô Aberon của Sur­da. Suốt dọc đường, cô rồng phơi phới bay, không phải lẩn lút trốn tránh nữa. Từ những ngôi làng bên dưới thỉnh thoảng lại vang lên tiếng kêu la oai oái đầy kinh ngạc.

Xế chiều, Saphi­ra đã bay tới Aberon, một thành phố được bao quanh bằng những bức tường thấp trên triền dốc thoai thoải giữa vùng đất phẳng phiu. Lâu đài Bor­romeo tọa lạc ngay trên đỉnh dốc. Lũy phòng thủ được bảo vệ bằng ba lớp tường kiên cố với nhiều tháp canh. Er­agon còn nhận ra hàng trăm cỗ máy bắn đá dùng để bắn rồng. Nắng chiều vàng như màu hổ phách trải trên những ngôi nhà và làm rức sáng lớp bụi mù gây ra bởi toán lính cưỡi ngựa đang phóng vào cửa tây thành.

Khi Saphi­ra bay là là xuống khu vực nội thành, Er­agon nắm bắt hàng loạt tư tưởng lộn xộn của những người đang ở trong lâu đài. Lúc đầu những âm thanh hỗn độn tràn ngập tâm tưởng nó, không thể phân biệt bạn với thù; cho đến khi nó tập trung vào những tư tưởng riêng biệt. Những âm thanh rầm rầm dịu dần thành một chuỗi cảm xúc khác nhau của những người bên dưới.

Er­agon bảo Saphi­ra: “Thận trọng. Đừng để họ hiểu lầm mà tấn công chúng ta.”

Bụi đất mịt mù khi Saphi­ra vỗ cánh hạ xuống giữa sân. Bầy ngựa hoảng hốt liên tục hí vang trời. Er­agon phải xâm nhập vào tâm tưởng chúng, vỗ về bằng cổ ngữ.

Xuống khỏi lưng Saphi­ra sau ông lùn Orik, Er­agon nhìn đám lính đứng từng hàng sau rào phòng thủ và những cỗ máy bắn đá. Nó không sợ vũ khí, nhưng sợ xảy ra đụng độ đáng tiếc với đồng minh.

Một nhóm mười hai người, trong đó có mấy người lính chạy vội ra chỗ Saphi­ra. Dẫn đầu là một người đàn ông cao lớn, nước da sậm như Na­sua­da – sau thủ lãnh Aji­had và con gái ông, đây là người thứ ba, Er­agon thấy có màu da như thế. Đứng cách xa chừng mười bước, người đàn ông cao lớn, cùng nhóm người kia cúi đầu, lên tiếng:

– Xin chào kỵ sĩ, tôi là Dah­war, con trai của Kedar, tổng quản của đức vua Or­rin.

Er­agon cúi đầu đáp lễ:

– Xin chào. Tôi là Er­agon Khắc-​Tinh của Tà-​Thần. Không là con của ai.

– Còn tôi, Orik, con trai của Thrifk.

Saphi­ra nhờ Er­agon nói lại: “Tôi, Saphi­ra, con gái của Ver­va­da.”

Dah­war lại cúi đầu:

– Tôi xin lỗi vì không có vị nào chức sắc cao hơn ra nghênh tiếp khách quý. Vì đức vua đã cùng công nương Na­sua­da và toàn thể quân cách mạng Var­den lên đường từ lâu, để ngh­inh chiến quân của Gal­ba­torix. Nhưng chúng tôi được lệnh, nếu quý vị tới, xin quý vị hãy lên đường ngay. Vì sự dũng cảm của quý vị là sự cần thiết cho chiến thắng của chúng ta.

Er­agon hỏi:

– Quan tổng quản có thể hướng dẫn trên bản đồ để chúng tôi tìm quân ta hiện ở đâu không?

– Tất nhiên là được, thưa ngài. Trong khi tôi đi lấy bản đồ, xin quý vị vào trong dùng chút đồ giải khát.

– Chúng tôi không có nhiều thời gi­an đâu. Ngoài ra Saphi­ra mới cần thấy bản đồ và nó không thể vào lọt trong nhà nổi.

Viên tổng quản nhìn thân hình đồ sộ của Saphi­ra, gật đầu:

– Đúng vậy, thưa ngài. Tuy nhiên nếu quý vị cần gì xin cứ truyền dạy, để chúng tôi được phục vụ.

Lần đầu tiên Er­agon mới nhận ra nó có quyền ra lệnh:

– Chúng tôi cần lương thực cho một tuần. Phần tôi, chỉ cần rau, bột, bánh mì là đủ. Xin lấy đầy mấy túi da đừng nước luôn thể.

Er­agon ngạc nhiên thấy viên tổng quản không hề thắc mắc chuyện nó không ăn thịt. Sau đó, Orik yêu cầu thêm mấy món như thịt bò, thịt heo muối…

Dah­war búng tay ra lệnh hai thị vệ vào lấy lương thực. Rồi trong khi chờ đợi, viên tổng quản e dè hỏi:

– Thưa… kỵ sĩ đã tới đây, vậy thì… theo tôi đoán, chắc việc huấn luyện của ngài đã hoàn tất?

– Cho tới chết việc học tập của tôi cũng không thể hoàn tất được.

– Tôi hiểu. Xin tha tội tò mò, vì quá ngu dốt những hiểu biết về kỵ sĩ rồng, tôi mạn phép hỏi, ngài có phải là thần tiên không? Nghe nói… trước kia ngài là người?

Ông lùn Orik lên tiếng:

– Đúng, kỵ sĩ đây là người, nhưng đã thay đổi. Quan tổng quản nên mừng vì điều đó, nếu không thì tình trạng của chúng ta còn khó khăn hơn gấp bội lần.

Dù viên tổng quản đủ khôn ngoan không gặng hỏi thêm, nhưng Er­agon đoán lão ta đã được lót tay hậu hĩ để moi tin tức về nó và Saphi­ra cho các quan trong triều của vua Or­rin.

Hai thị vệ đem nước, lương thực và bản đồ ra. Theo lệnh Er­agon, hai thị vệ đặt tất cả bên Saphi­ra, rồi chạy vội về sau lưng Dah­war, mặt tái mét vì quá sợ hãi. Quì xuống đất, viên tổng quản trải tấm bản đồ Sur­da và những vùng lân cận, vạch một đường theo hướng tây bắc từ Aberon tới Cithrí:

– Lần sau cùng tôi được biết, Đức vua Or­rin và công nương Na­sua­da ngừng lại đây để nhận lương thực cho ngựa. Thật ra đó không phải là lý do chính, nhưng vì quân đế quốc đang tiến về nam, dọc theo sống Ji­et và quân ta có ý đón đầu chúng tại đây. Có thể quân Var­den đang rải khắp nơi từ Cithrí tới sông Ji­et. Đó là theo ngụ ý của tôi. Nhưng tôi có thể nói, chắc chắn quí vị sẽ tìm gặp họ tại Cánh-đồng-​cháy.

– Cánh-đồng-​cháy?

– Vậy chắc quí vị biết nó với tên cổ, vì thần tiên gọi nơi đó là Du Vol­lar El­dr­varya.

– À, phải, tôi nhớ rồi.

Er­agon đã biết đến tên này qua những cuốn sử của sư phụ. Đó là cánh đồng chứa toàn than bùn, nằm dọc bờ đông sông Ji­et, biên giới Sur­da và cũng là nơi từng xảy ra một trận đánh nhỏ giữa các kỵ sĩ và tên phản đồ. Trong trận này, những con rồng đã vô ý phun lửa làm cháy than bùn. Ngọn lửa âm ỉ trong lòng đất cho tới bây giờ. Những làn khí độc hại phun lên từ những lỗ nứt nẻ và vùng đất này trở thành khô cằn, hoang phế, không người ở.

Er­agon chợt lạnh người, nhớ lại hình ảnh những cảnh báo trước: hai đạo quân quần thảo trên cánh đồng vàng rực, trong tiếng rít của những mũi tên đen và tiếng rú thảm thiết của những con người sũng trong vũng máu. Nó rùng mình nói với Saphi­ra: “Định mệnh đang tập trung vào chúng ta. Em nhớ hết những gì trên bản đồ rồi chứ?”

“Rồi.”

Cùng ông lùn Orik trở lên lưng rồng, Er­agon vừa cám ơn viên tổng quản xong, chợt nhíu mày vì tâm tưởng nó chợt thu được một mối xung đột bất hảo:

– Quan tổng quản, hai mã phu đang to tiếng với nhau. Một người tên là Tathal sắp gây án mạng. Ông cho người tới can ngăn còn kịp.

Dah­war tròn mắt kinh ngạc, thậm chí ông lùn cũng quay lại nhìn Er­agon. Viên tổng quản lắp bắp:

– Vì… vì… vì sao Khắc-​tinh của Tà-​thần lại biết vụ này?

– Vì… tôi là kỵ sĩ rồng.

Saphi­ra xoãi cánh. Tất cả mọi người trong sân vội chạy tìm chỗ núp cơn gió mạnh khi cô rồng vỗ cánh bay vút lên không.

Khi lâu đài Bor­romeo gần khuất hẳn phía sau, Orik hỏi:

– Er­agon, cậu nghe được ý nghĩ của tôi không?

– Ông muốn tôi thử không? Vì ông biết đó, tôi chưa thử đọc tư tưởng ông bao giờ.

– Thử đi.

Er­agon nhíu mày, ráng tập trung vào tiềm thức ông lùn, nhưng nó ngạc nhiên phát hiện tâm tưởng ông được bao phủ bằng một hàng rào tinh thần vững chãi. Nó có thể thấy sự hiện diện của Orik, nhưng không thể biết tư tưởng và cảm xúc của ông ta.

– Không thấy gì.

– Tốt. Tôi muốn biết chắc mình vẫn chưa quên bài học cũ.

Orik tủm tỉm cười, nói. Sau đó tất cả im lặng, ráng sức bay trong màn đêm đen kịt, không một dấu hiệu, không một đốm lửa. Cho đến khi mặt trời lên, Saphi­ra mới hạ cánh xuống bờ một hồ nhỏ, để Er­agon và ông lùn Orik vung vẩy chân tay cho thoải mái rồi ăn sáng.

Ngay khi Saphi­ra vừa cất cánh bay lại, chân trời trước mặt bỗng xuất hiện một đám mây đen kéo dài như một vệt bẩn lem nhem trên nền giấy trắng. Saphi­ra càng bay tới gần, đám mây càng lớn hơn, cho tới gần trưa thì đám mây đã phủ lên toàn thể đất đai bên dưới một tấm khăn liệm bằng hơi khói nồng nặc mùi khét lẹt.

Đã tới Cánh-đồng-​cháy của đế quốc Ala­gae­sia.

Cánh-đồng-​cháy

Er­agon ho sặc sụa khi Saphi­ra bay xuống qua lớp khói dày đặc, rẽ về hướng sông Ji­et sau đám mây mù. Er­agon lau nước mắt. Khói làm đôi mắt nó cay xè.

Càng xuống gần mặt đất, không khí càng có vẻ sạch hơn, và Er­agon đã có thể nhìn rõ chung quanh. Nắng lọc qua tấm màn khói đen và đỏ tía, nhuộm một màu cam nhạt trên khắp cảnh vật phía dưới. Thỉnh thoảng những kẽ hở trên bầu trời lem luốc rọi những luồng sáng nhợt nhạt thành những cột ánh sáng trong như thủy tinh trên mặt đất.

Dòng sông Ji­et trương phình như một con mãnh xà no nê. Mặt sông phản chiếu cùng một màu nhợt nhạt lên khắp Cánh-đồng-​cháy. Thậm chí khi có một tia nắng tinh khiết hiếm hoi lọt xuống, màu nước hiện ra một màu trắng đục như phấn – như màu sữa của một con ác thú- và cả dòng sông như phát ra một làn ánh sáng kỳ dị.

Hai đạo quân dàn trận dọc bờ sông con nước lờ đờ chảy. Về phía nam, quân Var­den và quân Sur­da đóng sau nhiều lớp rào phòng thủ, với những lều trại uy nghi và những chiến mã của đội kỵ binh dưới quyền vua Or­rin. Hùng mạnh vậy, nhưng vẫn không thể so sánh với lực lượng từ phương bắc tới. Lực lượng của Gal­ba­torix quá lớn, trải suốt ba dặm chiều dài, còn chiều sâu không thể nào đoán nổi.

Giữa hai lực lượng khô đội trời chung là một khoảng cách chừng hai dặm. Phần đất này, cũng như những phần đất các lực lượng đóng quân, vô số những hố chập chờn lửa xanh. Từ những ngọn đuốc yếu ớt đó nổi lên những ngụm khói làm lu mờ cả mặt trời. Tất cả cây cối đều cháy sém trên mặt đất nứt nẻ.

Saphi­ra xuất hiện trên vùng đất không người, ngăn cách hai đạo quân thù địch. Nó đảo mình, phóng hết tốc độ, thvăngr tién è hướng quân Var­den, vì nó sợ bị những pháp sư bên địch tấn công. Phần Er­agon, nó mở rộng ý thức về các ngả, tìm kiếm những ý lực thù địch có thể phản ứng lại sự thăm dò của nó.

Nhưng những gì nó cảm nhận chỉ là sự khiếp đảm bao trùm lên đám lính gác của Var­den, nhiều tên trong số này chưa một lần nhìn thấy Saphi­ra. Sợ hãi làm chúng mất bình tĩnh, bắn hàng loạt tên để ngăn chặn Saphi­ra.

Đưa cao tay, Er­agon la lớn: “Let­ta orya thomal!”. Những mũi tên đứng lặng giữa không gi­an. Với một cái lắc cổ tay và câu thần chú “Gán­ga!”, Er­agon điều khiển những mũi tên bay vèo vào bãi đất trống, cắm phập xuống đất. Một mũi tên, bắn chậm hơn mấy giây sau, lướt sát Saphi­ra, Er­agon nghiêng mình bắt gọn.

Chỉ khi cách mặt đất chừng ba mươi mét, Saphi­ra gi­ang cánh, bay chầm chậm trước khi đáp xuống bằng hai chân sau, rồi hai chân trước chạm đất, từ từ chạy và dựng lại giữa những lều bạt của quân Var­den.

Tháo gỡ dây nhợ buộc quanh chân, ông lùn lèm bèm:

– Tôi thà choảng nhau với cả chục quái thú Ur­gal còn hơn phải trải qua kiểu hạ cánh thót tim này.

Đánh đu từ thành yên, Orik buông mình xuống chân trước Saphi­ra, rồi rón rén xuốgn đất.

Kể cả khi Er­agon đã xuống khỏi lưng rồng, mấy chục tên lính vẫn còn nguyên vẻ sợ sệt mon men vây quanh Saphi­ra. Từ giữa đám lính, một người râu rậm vừa lách ra vừa nói:

– Thôi nào, đừng đứng há hốc mồm ra đó nữa. Trở lại vị trí ngay.

Nghe lệnh, dám lính tản ra, ừa bước đi vừa ngoái lại nhìn, thì thầm bàn tán. Er­agon nhận ra người đàn ông râu rậm với cái áo da bò rừng còn nguyên lông đó chính là Fredric – sĩ quan quân khí của Var­den tại Far­then Dur. Khi Fredric lại gần, Er­agon bắt gặp vẻ ngạc nhiên của ông ta khi thấy những thay đổi của nó.

Fredric vuốt ve cây cung, cố che giấu sự ngạc nhiên, lên tiếng:

– Xin chào, Khắc-​Tinh của Tà-​Thần. Ngài tới vừa đúng lúc… Nhưng… thật tình không nói sao để ngài hiều chúng tôi xấu hổ đến ngần nào khi tấn công quí vị. Lỗi lầm đó làm hoen ố danh dự tất cả đơn vị này. Mong là không vị nào bị thương.

– Không.

– Vậy thì may quá. Tôi sẽ đập cho mỗi đứa một trận, hạ cấp bậc chúng… Phạt như vậy… vừa lòng ngày chưa ạ, thưa kỵ sĩ?

– Tôi muốn gặp chúng.

Mặt Fredric thoáng lo lắng. Rõ ràng viên sĩ quan sợ Er­agon hạ lệnh phải phạt đám lính khủng khiếp hơn, tuy nhiên vẫn bình tĩnh nói:

– Xin quí vị theo tôi.

Fredric hướng dẫn Er­agon, Orik và Saphi­ra vào doanh trại. Trước lều vải sọc của ban chỉ huy, khoảng hai mươi người lính đang rầu rĩ, cởi bỏ vũ khí áo giáp dưới mắt người đồng đội. Thấy Er­agon và Saphi­ra, đám “tội phạm” đều đồng loạt quỳ gối, lom lom nhìn mặt đất, lên tiếng:

– Kính chào Khắc-​Tinh của Tà-​Thần.

Er­agon lẳng lặng vừa đi qua mặt từng người lính vừa kiểm tra tư tưởng họ, rồi mới nói:

– Các bạn nên hãnh diện vì đã có phản ứng nhanh nhạy khó chúng tôi xyất hiện. Nếu Gal­ba­torix tấn công, mũi tên của các bạn nhắm vào quân thù sẽ hiệu quả hơn những mũi tên vừa nhắm vào tôi và Saphi­ra.

Đám lính ngơ ngác ngước nhìn Er­agon nói tiếp:

– Tôi chỉ yêu cầu một điều, lần sau phải bình tĩnh nhắm mục tiêu trước khi bắn. Rõ cả rồi chứ?

– Rõ, thưa Khắc-​Tinh của Tà-​Thần.

Dừng lại trước người thứ hai cuối hàng, Er­agon đưa mũi tên đã bắt được:

– Tôi tin đây là mũi tên của anh, Har­win.

Har­win ngẩn ngơ nhận lại mũi tên:

– Dạ, đúng rồi. Tôi vẫn sơn trắng thân tên để dễ tìm lại. Đa tạ kỵ sĩ.

Er­agon gật đầu rồi cao giọng nói với Fredric để tất cả cùng nghe được:

– Đây đều là những người lính tốt và trung thực, tôi không muốn họ bị bất cứ hình phạt nào vì sự kiện vừa qua.

– Dạ, đích thân tôi sẽ lo vụ này.

– Bây giờ ông đưa tôi tới ra mắt công nương Na­sua­da được chứ?

– Vâng, thưa ngài.

Khi quay đi, Er­agon biết hành động của nó đã thu phục được sự trung thành tuyệt đối của những người lính này, và sẽ được lan truyền khắp trong hàng ngũ của Var­den.

Trên đường qua những căn lều, Er­agon cảm thấy chưa bao giờ nó gi­ao tiếp với tâm tư của nhiều người đến thế. Hàng ngàn ý nghĩ, hình ảnh và cảm xúc chen lấn vào trí não nó. Dù cố gắng giữ cho những tư tưởng đó cách rời nó một khoảng cách, nhưung vẫn không thể ngăn được sự thu hút tình cờ những chi tiết trong đời sống của mỗi con người. Có những phát hiện làm nó giật mình, có những phát hiện vô nghĩa, lại có những điều thật ghê tởm, nhiều điều làm nó sửng sốt. Tất cả đều ôm ấp một hy vọng, một ước mơ, một khả năng để đạt tới một hoài bão nào đó, và họ đều có những hồi ức về những gì đã hoàn tất trong đời. Nhưng tất cả bọn họ đều cảm thấy ưu phiền, đau khổ.

Một số ít tư tưởng phát hiện luồng gi­ao tiếp của nó, và họ vội vàng né tránh bằng nhiều luồng công lực khác nhau. Lúc đầu Er­agon lo ngại trong hàng ngũ Var­den có nhiều kẻ địch xâm nhập, nhưng sau một thoáng nhìn, nó nhận ra đó là những thành viên của Con-đường Lãng-​du.

Saphi­ra bảo: “Chắc họ sợ vãi linh hồn vì tưởng bị pháp sư xa lạ nào đó tấn công.”

“Họ tự phong tỏa như vậy, làm sao anh cắt nghĩa cho họ biết được mình là ai.”

“Phải mau mau gặp họ, nếu không họ sẽ hiệp lực cùng nhau tấn công chúng ta đó.”

“Không sao. Họ chẳng làm gì nổi chúng ta đâu… Du Vran­gr Ga­ta – Con-đường Lãng-​du!Ngay cái tên đó chứng tỏ khả năng của họ rồi. Chính xác theo cổ ngữ, phải là Du Ga­ta Vran­gr.”

Tới cuối doanh trại của Var­den, một lá cờ lớn tung bay với hình thêu hai thanh gươm song song, dưới một tấm khiên màu đen. Fredric vén cửa lều để Er­agon và Orik tiến vào. Phía sau, Saphi­ra vươn cổ nhìn vào bên trong.

Một chiếc bàn lớn kê giữa lều. Na­sua­da đứng tại đầu bàn, chăm chú nghiên cứu một chồng bản đồi và những cuộn giấy.

Bụng Er­agon htắt lại khi thấy Arya đang đứng đối diện Na­sua­da. Cả hai cô đều trang bị áo giáp như những người đàn ông ngoài mặt trận.

Quay nhìn Er­agon, Na­sua­da bật kêu nho nhỏ:

– Er­agon! Anh nhận thư tôi nhanh quá vậy?

Er­agon mỉm cười:

– Tôi không nhận được gì hết. Thu hình thấy quân của Gal­ba­torix, tôi lên đường ngay. Được trở về với Var­den thật sự là một niềm vui của tôi và Saphi­ra.

Trong khi Er­agon nói, Na­sua­da nhìn nó phân vân hỏi:

– Chuyện gì xảy ra với anh vậy, Er­agon?

Saphi­ra bảo: “Chắc Arya chưa cho cô ta biết chuyện gì.”

Vì vậy Er­agon phải kể lại tất cả những gì đã xảy ra cho nó và Saphi­ra từ khi chia tay Na­sua­da tại Far­then Dur. Hầu hết những gì nó kể, Er­agon cảm thấy là cô đã nghe Arya hoặc những người lùn nói rồi, nhưng cô vẫn chăm chú lắng nghe. Việc học tập, Er­agon rất thận trọng, không tiết lộ một lời về chuyện vị lão tiên còn sống, vì chưa được phép của sư phụ, nhưng vẫn cố gắng để Na­sua­da có cảm tưởng tốt về những khả năng nó thu hoạch được. Chuyện Lễ-hội Huyết-​thệ, Er­agon chỉ đơn giản nói: “Trong buổi lễ, những con rồng đã làm tôi thay đổi như tiểu thư đã thấy và ban cho tôi sức mạnh của thần tiên. Hơn nữa, vết thương sau lưng đã được chữa lành.”

– Vậy là vết sẹo không còn nữa?

Er­agon gật đầu. Na­sua­da nói:

– Một chuyện thật diệu kỳ. Kỵ sĩ và Saphi­ra đã học hỏi được quá nhiều điều từ khi rời khỏi Far­then Dur.

Er­agon chỉ quanh lều:

– Tiểu thư cũng vậy. Những gì tiểu thư đã làm thật đáng khâm phục. Cả núi công việc mới chuyển được Var­den tới Sur­da… Hội-đồng Tiền-bối có gây rắc rồi gì cho tiểu thư không?

– Không nhiều và không đặc biệt nghiêm trọng. Dường như họ đã cam chịu dưới quyền lãnh đạo của tôi.

Tiếng giáp sắt leng keng chạm vào nhau khi Na­sua­da ngồi xuống chiếc ghế dựa lớn và quay sang ông lùn Orik chào và hỏi ông ta có điều gì nói thêm không. Orik chỉ kể lại vài chuyện vặt trong thời gi­an sống trong hoàng cung Ellesméra. Er­agon đoán ông lùn giữ bí mật những quan sát của riêng mình để chỉ tâu lại đức của của ông ta.

Sau cùng Na­sua­da lên tiếng:

– Tôi nóng lòng muốn biết, liệu chúng ta có thể vượt qua được sự tấn công khốc liệt này không? Trên đường bay từ Aberon tới đây, có ai thấy chiến binh của vua Hroth­gar không? Chúng ta rất cần quân tăng viện của người lùn.

loading...

Qua Er­agon, Saphi­ra trả lời: “Không. Nhưng lúc đó trời tối, chúng tôi lại bay giữa hoặc trên những tầng mây, rất có thể không thấy một điểm đóng quân. Hơn nữa, chúng tôi bay thẳng tới đây, còn người lùn chắc phải qua những con đường mở sẵn chứ không đi qua những vùng hoang vu đâu.”

Er­agon hỏi:

– Tình hình tại đây ra sao rồi, thưa tiểu thư?

Na­sua­da thở dài cho Er­agon biết cô và vua Or­rin đã biết những gì về lực lượng của Gal­ba­torix và những nhọc nhằn để có thể tới Cánh-đồng-​cháy trước quân của bạo chứa. Sau cùng cô nói:

– Chúng tới đây ba hôm trước và từ đó chúng tôi đã trao đổi hai thông điệp rồi. Đầu tiên chúng kêu gọi ta đầu hàng, chúng tôi đã từ chối. Bây giờ thì chờ chúng trả lời.

Er­agon hỏi:

– Lực lượng của chúng khoảng bao nhiêu? Từ trên lưng Saphi­ra nhìn xuống, tôi thấy chúng đông như kiến.

– Chúng tôi ước lượng Gal­ba­torix đã tập hợp cả trăm ngàn quân.

Er­agon sửng sốt:

– Hàng trăm ngàn! Ở đâu ra mà nhiều vậy? Vô lý quá! Giỏi lắm cũng chỉ có một nhúm kẻ nhiệt tình phục vụ cho Gal­ba­torix.

– Họ bị cưỡng bách vào lính. Hy vọng duy nhất của chúng ta là, những người bị ép buộc tời khỏi mái ấm gia đình sẽ chẳng có lòng dạ nào chiến đấu. Nếu chúng ta có thể gây hoảng sợ cho họ, có thể họ sẽ tìm cách đào ngũ. Lực lượng chúng ta hiện nay mạnh hơn khi còn ở Far­then Dur, vì quân đội của vua Or­rin đã sáp nhập với chúng ta và từ khi tin tức về kỵ sĩ Er­agon được tung ra rộng rãi, rất nhiều người đã tình nguyện theo chúng ta.

Ngay lúc đó, Er­agon cảm thấy có một tư tưởng lạ mon men xâm nhập vào tấm trí nó. Một kẻ biết nó đã phát hiện ra nhưng không lẩn trốn. Cảnh giác, Er­agon quay lại nhìn suốt tới cuối lều và thấy đứa con gái tóc đen đã xuất hiện bên Na­sua­da khi Er­agon thu hình cô từ Ellesméra. Con bé nhìn thẳng Er­agon bằng đôi mắt màu tím và nói:

– Xin chào, Khắc-​Tinh của Tà-​Thần. Chào Saphi­ra.

Rùng mình vì giọng nói như người lớn của con bé, Er­agon hỏi:

– Em là ai?

Con bé lẳng lặng vén ngược mái tóc lòa xòa trước trán, để lộ ra một dấu hiệu màu bạc, giống hệt dấu ged­wey ig­na­sia trên bàn tay Er­agon.

Er­agon biết ngay đứa con gái nhỏ đó là ai.

Không ai nhúc nhích khi Er­agon tiến lại gần con bé và Saphi­ra vươn cổ dài hơn vào trong lều. Quỳ một gối, Er­agon cầm bàn tay phải con bé, da con bé nóng hổi như đang lên cơn sốt. Vừa nói bằng cổ ngữ vừa truyền bằng trí lực, Er­agon lên tiếng:

– Ta xin lỗi, em có tha lỗi điều ta đã gây ra cho em không?

Mắt con bé dịu xuống, nó nghiêng người hôn lên trán Er­agon. Lần đầu tiên với giọng của một đứa trẻ, con bé thì thầm:

– Em tha lỗi cho kỵ sĩ. Làm sao em có thể không thua thứ, vì kỵ sĩ và Saphi­ra đâu có ý định làm hại em. Tha thứ, nhưng em vẫn phải cho kỵ sĩ biết một điều, làm lương tâm kỵ sĩ luôn cắn rứt: kỵ sĩ đã đày đọa em trong sự tiên đoán ra tất cả những nỗi thống khổ chung quanh. Ngay lúc này đây, em đang bị thúc dục phải tới cứu một người vừa bị cắt vào tay, cách đây ba lều và một lính cầm cờ vừa bị gãy ngón tay trong trục bánh xe. Còn nhiều người khác nữa, đã hoặc sắp, bị thương… Thậm chí ban đêm em cũng không thể chợp mắt vì sức mạnh thôi thúc phải đi cứu người đo. Ôi, tài sản kỵ sĩ dành cho em là vậy đó.

Mấy lời sau cùng, giọng nó lại đầy cay đắng.

Saphi­ra vươn vào giữa hai người, chạm nhẹ mõm lên chính giữa dấu màu bạc của con bé, bảo: “Tĩnh tâm đi, cô bé. Trong tim em ngùn ngụt giận hờn.”

Er­agon bảo:

– Em sẽ không phải sống mãi thế này đâu. Thần tiên đã dạy ta cách giải lời bùa chú, ta tin là em sẽ thoát khỏi lời nguyền. Không dễ, nhưng có thể làm được.

Con bé bỗng như không còn tự kiểm soát nổi mình, hồng hộc thở đứt quãng, tay run lẩy bẩy trong bàn tay Er­agon và hai mắt nó long lanh nước mắt. Nhưng rồi nó che giấu ngay cảm xúc thật bằng một nụ cười:

– Tốt, chúng ta cứ thử xem. Nhưng dù sao cũng phải chờ tới sau cuộc chiến này đã.

– Ta muốn em không phải chịu đau đớn càng sớm càng tốt.

– Không nên làm kỵ sĩ kiệt sức, khi sinh mạng mọi người tùy thuộc vào sức lực, tài năng của kỵ sĩ. Kỵ sĩ quan trọng hơn em.

Mặt nó thoáng nụ cười láu lỉnh:

– Ngoài ra, nếu em được giải lời nguyền ngay lúc này, em sẽ không còn khả năng giúp Var­den nếu kỵ sĩ gặp nguy hiểm. Chắc kỵ sĩ không muốn công nương Na­sua­da chết vì vậy chứ, đúng không?

Cân nhắc lời nói của con bé một lúc, Er­agon thú thật:

– Đúng, ta không muốn Na­sua­da phải chết. Được rồi, ta sẽ đợi. Nhưng ta thề với với em: nếu thắng trận này, ta sẽ sửa lại sai lầm đã gây ra cho em.

Con bé nghẹo đầu nói:

– Em sẽ bắt kỵ sĩ giữ lời thề.

Na­sua­da đứng dậy, nói:

– El­va chính là người đã cứu tôi khỏi chết bởi tay một kẻ ám sát tại Aberon.

– Vậy sao? El­va, vậy là ta lại mang thêm món nợ em đã cứu mạng thủ lãnh của ta.

Na­sua­da lên tiếng:

– Nào, bây giờ tôi phải đưa Er­agon, ông Orik, Saphi­ra và ra mắt nhà vua và các quan trong triều. Ông đã gặp nhà vua bao giờ chưa, Orik?

Ông lùn lắc đầu:

– Chưa bao giờ tôi tới miền tây này.

Khi tất cả cùng ra khỏi lều – Na­sua­da dẫn đầu cùng El­va đi kế bên – Er­agon cố tình đi gần. Arya để nói chuyện nhưng Arya đã rảo bước lên cùng Na­sua­da. Thậm chí cô không hề nhìn nó một lần. Sự lãnh đãm của cô làm nó đau đớn hơn bất kỳ vết thương thể xác nào. El­va quay nhìn Er­agon với đôi mắt đầy hiểu biết.

Tất cả tới một nhà bạt rộng lớn màu trắng và vàng – mặc dù màu sắc khó mà phân biệt, trên Cánh-đồng-​cháy tất cả đều phủ một màu cam.

Vừa bước vào trong, Er­agon ngạc nhiên thấy căn nhà bạt chất đầy ly cốc, nồi cất rượu, bình thí nghiệm và những dụng cụ của ngành khoa học tự nhiên: “Ai lại khân cả đống lỉnh kỉnh ra chiến trường thế này?” Er­agon đang ngẩn người tự hỏi, chợt nghe Na­sua­da nói:

– Er­agon, tôi muốn anh gặp Or­rin, con trai của Larkin, quốc vương của Sur­da.

Từ sau hàng đống chai lọ, bình thủy tinh xuất hiện một người đàn ông đẹp trai, dong dỏng cao, tóc dài tới vai, đội một vương miện bằng vàng. Tư tưởng của ông vua này, giống Na­sua­da, như được bảo vệ bằng một bức tường thép. Chắc chắn nhà vua đã được huấn luyện khả năng này.

Qua cuộc trò chuyện, Er­agon cho rằng nếu Or­rin có thêm một chút sức sống trẻ trung và bớt một chút tàng tàng trong đầu, thì ông ta cũng là một người thú vị. Tóm lại, Er­agon tin tưởng vào tài năng lãnh đạo của Na­sua­da hơn.

Sau khi né tránh hàng loạt câu hỏi của ông vua trẻ về những ngày sống giữa thần tiên, Er­agon luôn phải mỉm cười, lịch thiệp gật đầu, lần lượt đáp lễ từng ông công hầu, bá tước. Ông nào cũng bảo “vô cùng vinh hạnh được diện kiến kỵ sĩ rồng” và mời Er­agon tới thăm lâu đài của họ. Er­agon ghi nhớ từng tên và chức vụ của các quan, theo lời dạy của sư phụ. Vì vậy nó cố giữ thái độ hòa nhã, dù đang thầm bực bội nghĩ: “Trong lúc dầu sôi lửa bỏng, sắp bước vào cuộc chiến cam go, mà cứ phải đứng đây cười cợt xã gi­ao thế này sao?”

Saphi­ra khuyên nhỉ: “Kiên nhẫn nào, ông anh. Không còn đông các quan nữa đâu. Vả lại, nghe những lời mời mọc không? Nếu thắng trận, anh em mình đi ăn tiếc chùa cả năm không hết lượt…”

“Anh nghĩ các quan sẽ phát hoảng khi biết tài ăn nhậu của em. Chưa kể đồ nhắm, chỉ riêng khoản rượu, một đêm thôi là em nốc hết cả kho rượu của họ rồi.”

“Ghê vậy? Hai đêm thì được.”

Khi ra khỏi nhà bạt củ vua Or­rin, Er­agon hỏi Na­sua­da:

– Bây giờ tôi phải làm gì để phục vụ tiểu thư?

– Kỵ sĩ nghĩ làm gì để phục vụ tốt nhất? Anh biết trách nhiệm của mình rõ hơn tôi chứ.

Lúc này Arya mới nhìn Er­agon, chờ đợi câu trả lời của nó.

Nhìn bầu trời đỏ như máu, Er­agon cân nhắc câu hỏi của Na­sua­da:

– Tôi sẽ lãnh trách nhiệm điều hành Con-đường Lãng-​du như đã có lần họ đề nghị. Rồi chỉnh đốn lại theo ý tôi để đưa họ ra trận. Cùng sát cánh bên nhau, chúng tôi có thể tạo ra cơ hội tốt nhất đánh bại những pháp sư của Gal­ba­torix.

– Ý kiến đó rất hay.

Er­agon chuyển lại câu hỏi của Saphi­ra: “Có chỗ nào để Er­agon cất hành lý không? Tôi không muốn vác mãi mấy cái túi và yên cương trên lưng đâu.”

Na­sua­da vội nói:

– Hãy để tạm trong lều tôi. Er­agon, tôi sẽ ra lệnh dựng lều riêng cho anh ngay. Nhưng tôi đề nghị,s au khi cất hành trang, anh hãy mặc giáp vào, vì luôn luôn anh phải sẵn sàng. À, Saphi­ra, chúng ta cũng đã mang theo bộ giáp của mi. Sẽ cho đem tới mi ngay.

Ông lùn Orik hỏi:

– Còn tôi thì sao, thưa công nương?

– Nhiều người lùn của hộ tộc In­gei­tum đang trổ tài chuyên môn dựng công sự cho chúng tôi. Nếu muốn, ông có thể chỉ huy họ.

Orik hoan hỉ ra mặt vì sắp được gặp đồng hương, nhất là lại cùng dòng tộc. Đặt nắm tay lên ngực, ông lùn nói:

– Tôi xin phép lãnh nhiệm vụ đó ngay.

Không đợi nghe trả lời, Orik lạch bạch chạy qua doanh trại về hướng bắc, tới nơi đang xây công sự.

Về tới cửa lều, Na­sua­da bảo Er­agon:

– Báo cho tôi biết ngay sau khi anh thu xếp xong với Con-đường Lãng-​du.

Cô vén cửa lều, cùng El­va khuất sau lỗi vào tối om. Arya vừa định bước theo, Er­agon lại gần nói bằng cổ ngữ:

– Khoan đã.

Nàng tiên dừng chân, lẳng lặng nhìn nó. Er­agon nhìn cô không chớp mắt.

– Arya, tôi sẽ không xin lỗi vì tình cảm tôi đối vớin­àng đâu. Tôi chỉ muốn nàng hiểu là tôi rất ân hận vì hành động của mình trong Lễ-hội Huyết-​thệ. Đếm đó tôi không phải là chính mình nữa; nếu không, tôi đã không quá vô lễ với nàng đến thế.

– Và.. chàng sẽ không bao giờ làm như vậy nữa chứ?

Er­agon cố nén tiếng cười mừng rỡ:

– Không bao giờ… vì chẳng đi tới đâu, phải không? Tôi không muốn làm phiền nàng, cho dù…

Er­agon ngừng bặt trước khi nói ra những lời mà nó biết rồi lại sẽ làm nó thêm hối tiếc.

Vẻ mặt Arya chịu lại:

– Er­agon, chàng phải hiểu là tôi không muốn làm chàng đau khổ.

– Tôi hiểu.

Im lặng một lúc, Arya hỏi:

– Chuyến bay êm ả chứ?

– Êm ả.

– Có gặp khó khăn gì trên sa mạc không?

– Khó khăn gì?

– Không. Tôi chỉ lo vậy thôi. Từ sau lễ hội, chàng sao rồi? Tôi có nghe những gì chàng nói với Na­sua­da, nhưng chàng chỉ nhắc tới vết thương trên lưng.

– Tôi…

Nó định nói dối – không muốn Arya biết nó đã nhớ thương cô đến ngần nào – nhưng mấy câu cổ ngữ tắt lịm trong miệng, làm nó lặng câm. Sau cùng nó sử dụng phương tháp của thần tiên, chỉ nói một phần sự thật.

– Tôi khá hơn trước nhiều.

Trong thâm tâm câu đó chỉ có nghĩa: lưng tôi khá hơn trước nhiều.

Dù Arya không bị mắc mưu nhưng cô chỉ nói:

– Tôi rất mừng.

Nghe tiếng Na­sua­da gọi trong lều, Arya nhìn Er­agon nói:

– Họ đang càn tôi. Er­agon, cả hai ta đều bận rộn. Trận chiến đã cạn kề. Bảo trọng. Er­agon Khắc-​Tinh của Tà-​Thần.

Nói xong, oArya biến vào trong lều.

Thẫn thờ, Er­agon đứng lặng người. Nó đã hoàn tất việc cần làm, nhưng dường như chẳng thay đổi được gì tình trạng giữa nó và Arya. Nắm chặt hai tay, nhìn xuống đất mà Er­agon chẳng thấy gì. Saphi­ra dúi mũi lên vai làm nó giật mình: “Đi thôi, tiểu huynh. Đứng đây mãi được sao. Cái yên này làm em ngứa lưng quá rồi.”

“Vừa lèm bèm vừa tháo như muốn giật đứt mấy sợi dây, Er­agon ném phịch bộ yên xuống đất. Saphi­ra vươn đôi vai khổng lồ, khoan khoái: “Đã quá!”

Lấy bộ giáp từ trong túi xách ra, Er­agon khoác lên mình bộ chiến bào rực rỡ. Áo giáp đan bằng chỉ sắt mặc ngoài áo vải của thần tiên. Xà cạp cuốn quanh chân, đầu đội mũ da, bên ngoài là lớp thép đan, sau cùng là chiếc mũ bằng vàng và bạc. Đai lưng của Be­loth Khôn Ngoan và thanh Zar’roc đeo bên hông trái. Ngang lưng, Er­agon khoác ống tên lông ngỗng nữ hoàng Is­lanzadí đã ban cho.

Sau khi cất hành lý của nó và Orik vào lều, Er­agon cùng Saphi­ra đi tìm cô gái phù thủy Tri­an­na, thủ lãnh hiện nay của Con-đường Lãng-​du. Mới đi được mấy bước, Er­agon cảm thấy một ý lực rất gần đang cố bảo vệ khỏi tầm kiểm soát của nó. Đoán đó là một trong những pháp sư của Var­den, Er­agon và Saphi­ra đổi hướng, tiến lại.

Đi chừng được mười mấy mét, Er­agon và Saphi­ra tới trước một lều vải nhỏ màu xanh, một con lừa buộc ngay trước cửa lều. Bên phải lềi, có một cái nồi sắt nhọ nhem treo trên cái kiềng sắt đặt trên miếng hố lửa. Mùi khói hôi khét tỏa nồng nặc. Chung quanh bếp lửa, giăng mắc nhiều sợi dây thừng, treo đầy lá cà độc dược, đỗ quyên, thủy tùng và nhiều thứ nấm. Er­agon nhận ra tất cả các loại này, nhờ những bài học về độc dược của sư phụ Oromis.

Đứng bên nồi, tay cầm mái chèo dài bằng gỗ đang ngoáy nước thuốc, chính là bà lang phù thủy An­gela và dưới chân bà, mèo ma Solem­bum ngồi nhòm nhõm.

Mèo ma “ngao” một tiếng lớn làm bà An­gela ngước lên nhìn. Ánh lửa chập chờn hắt lên khuôn mặt phủ tóc rối bù. Thấy Er­agon, bà An­gela nhăn mặt hỏi:

– Thì ra các ngươi trở lại rồi à?

– Dạ, chúng cháu đã trở lại.

– Mi chỉ nói vậy thoi sao? Đã gặp El­va chưa? Đã thấy những gì mi làm cho con nhỏ đó chưa?

– À…

-À? Mi không biết diễn tả lời nói cho minh bạch đàng hoàng hơn sao? Suốt thời gi­an dài được thần tiên dạy dỗ mi chỉ biết nói “À”? Đồ đầu rỗng! Chỉ những kẻ ngu đần mới làm điều mi đã làm…

Chắp hai tay sau lưng, Er­agon lẳng lặng nghe bà An­gela sang sảng phân tích từng chi tiết để chỉ rõ cho nó thấy rõ ràng nó là một thằng đầu rỗng, ngu si – thậm chí bà ta còn quá đà khi bảo, chắc tổ tiến nó có người lất quái thú Ur­gal, nên nó mới thừa hưởng cái gien đần độn đó. Nếu bị một kẻ khác nhục mạ kiểu này, Er­agon đã thách đầu rồi. Nhưng Er­agon hiểu sự tức giận ngấm ngầm bấy lâu nay trong bà, bây giờ mới có dịp bùng ra. Sự phẫn nộ của bà có nguyên nhân chính đáng: chính nó đã gây nên một sai lầm kinh khủng.

Khi bà An­gela ngừng lại để thở, Er­agon mới lên tiếng:

– Bà nói rất đúng, vì vậy ngay sau trận chiến kết thúc, cháu sẽ giải lời nguyền cho El­va.

Bà lang phù thủy chớp mắt đúng ba lần, miệng chu lại thành một chữ “O” nho nhỏ truớc khi mím chặt lại. Ánh mắt đầy nghi ngờ, bà hỏi:

– Cháu không nói vậy để ta nguôi cơn tức bực đó chứ?

– Không đâu.

– Thật sự cháu có thể giải lời nguyền? Ta tưởng điều đó không thể nào làm nổi?

– Thần tien đã khám phá ra nhiều phương pháp sử dụng phép thuật.

– À, vậy thì tốt rồi. Mọi chuyến sẽ ổn, phải không?

Bà hớn hở cười với Er­agon, rồi quay qua vỗ ngực Saphi­ra:

– Gặp lại cháu ta vui lắm. Cháu lớn quá rồi, Saphi­ra.

“Cháu cũng mừng được gặp lại bà.”

Khi bà An­gela trở lại với nồi thuốc, Er­agon nói:

– Bài diễn văn của bà hay quá.

– Cám ơn. Ta phải soạn suốt mấy tuần lễ đó. Tiếc là cháu không được nghe đoạn cuối. Tuyệt lắm. Cháu muốn nghe không?

– Ôi thôi, xin tha cho cháu. Cháu có thể tưởng tượng nó như thế nào rồi. Hình như… bà không ngạc nhiên vì sự thay đổi của cháu?

– Ta có được nghe tin này rồi. Theo ý ta thì đó là một sự tiến bộ. Nhưng nói thế nào nhỉ, cháu… chưa hoàn tất sự thay đổi, đúng không?

– Chính xác.

Chỉ những cây lá trên dây, Er­agon hỏi:

– Bà làm gì với những thứ này vậy?

– Ồ, một kế hoạch nhỏ của ta, nhưng còn đang trong vòng nghiên cứu.

Ngắm nghía mấy tai nấm đầy màu sắc, Er­agon lại hỏi:

– Bà đã đi đến kết luận có loài cóc hay không chưa?

– Hình như tất cả những con cóc đều là những con ếch, nhưng không phải ếch đều là cóc. Trên tinh thần đó, cóc không thật sự tồn tại, và điều đó có nghĩa là ta có lý.

Chợt bỏ qua vấn đề cóc ếch, bà ta cầm cốc nước trên băng ghế kế bên, đưa cho Er­agon:

– Này, uống trà đi.

Liếc đống lá cây héo rũ chung quanh, rồi nhìn vẻ mặt cởi mở của bà An­gela. Er­agon đón cốc nước. Lẩm bẩm thầm để bà lang không nghe được, nó niệm thần chú loại bỏ chất độc. Chỉ đến khi biết chắc cốc nước hoàn toàn tinh khiết, Er­agon mới dám uống. Dù nó không biết nước gồm những thành phần gì, nhưng mùi vị rất ngon.

Ngay lúc, đó mèo ma Solem­bum đủng đỉnh lại gần Saphi­ra, ròi cong người cọ mình vào chân trước của cô rồng, giống hệt một con mèo bình thường. Saphi­ra vuốt dọc sống lưng mèo ma bằng đầu mũi, nói: “Mình gặp một kẻ ở Ellesméra biết cậu đấy.”

“Thật sao?”

“Thật mà. Tên cô ả là Thần Cước, Vũ Nữ Trong Mơ và lại thêm cả tên Maud nữa.”

Đôi mắt vàng của Solem­bum mở lớn, sau vài tiếng gừ gừ trong họng, nó lại tiếp tục cọ mình vào chân rồng.

Bà An­gela nói:

– Ta đoán cháu đã gặp và trò chuyện với Na­sua­da, Arya và vua Or­rin. Cháu nghĩ sao về ông cụ non Or­rin?

Er­agon thận trọng lựa lời, vì biết hai người đang nói đến một ông vua:

– Hình như… ông ta quan tâm đến rất nhiều điều.

– Phải, ông ta như người sống trên mây. Nhưng bằng cách này hay cách khác, thiên hạ ai cũng thế cả thôi.

Er­agon tủm tỉm cười:

– Phải là người điên mới vận chuyển cả đống chai lọ từ thủ đô tới đây.

– Lại còn thế nữa?

– Bà đã thấy bên trong nhà bạt của nhà vua chưa?

– Không như nhiều kẻ khác, ta không kheo mồm miệng khi gặp vua chúa.

Vì vậy Er­agon phải tả lại hàng đống dụng cụ lỉnh kỉnh nhà vua đã chuyển đến Cánh-đồng-​cháy. Bà An­gela quên cả đảo thuốc, mê mẩn nghe Er­agon nói. Khi nó chấm dứt, bà lang phù thủy hấp tấp thu dọn lá thuốc trên dây phơi, nói:

– Ta phải triều kiến nhà vua ngay. Lúc khác hai cháu hãy kể cho ta nghe những ngày ở Ellesméra. Thôi đi đi, cả hai đứa đi đi.

Er­agon tay vẫn còn cấm cốc nước, chỉ biết lắc đầu khi người đàn bà nhỏ bé đẩy nó và Saphi­ra ra khỏi lều.

“Nói chuyện với bà ta bao giờ cũng…”

“Khác thường?”

“Chính xác.”

Mục lục
loading...