Menu

ER­AGON – CẬU BÉ CƯỠI RỒNG FULL 4 TẬP-Quyển 2.Chương 42


Er­agon – Cậu Bé Cưỡi Rồng Full 4 Tập


Tác giả: Christo­pher Paoli­ni


Q.2 – Chương 42: Tặng Vật

Er­agon thu xếp hành trang không đầy năm phút, rồi đóng bộ yên cương lên lưng Saphi­ra.

Saphi­ra vươn cổ, mũi phun lửa, bảo: “Em đợi anh ngoài bãi tập.” Với một tiếng gầm, nó phóng khỏi ngôi nhà cây, bay lướt qua rừng già.

Lanh lẹ như một thần tiên, Er­agon chạy tới cung Tial­darí tìm ông lùn Orik. Orik đang ngồi trong một góc, chơi một trò chơi bằng chữ cổ, mừng rỡ vỗ vai Er­agon:

– Chuyện gì mà tới giờ này? Tưởng cậu đang luyện kiếm với Vanir chứ?

– Tôi và Saphi­ra sửa soạn rời đây.

Orik há hốc mồm, rồi lim dim mắt hỏi:

– Có tin tức gì à?

– Sẽ kể cho ông sau. Ông muốn cùng đi không?

– Tới Sur­da?

– Phải.

Ông lùn toác miệng cười:

– Cậu phải cùm chân tay, mới bắt tôi ở lại đây được. Ở lại hoàng cung này làm gì? Ăn cho mập ú, làm biếng nhớt thây à? Bao giờ đi?

– Càng sớm càng tốt. Thu xếp lẹ lên. Chờ chúng tôi ngoài bãi tập. À, ông chôm chỉa được lương thực đủ cho hai người trong một tuần không?

– Một tuần? Sao tới kịp…

– Chúng ta bay với Saphi­ra.

Mặt ông lùn tái nhợt:

– Ôi, người lùn chúng tôi làm sao chịu được độ cao. Đi ngựa cho chắc ăn, như khi mình tới đây đó.

– Không được. Mất nhiều thời gi­an lắm. Ông yên tâm, nếu bị ngã đã có Saphi­ra túm lại.

Orik càu nhàu, không chút tin tưởng.

Er­agon chạy xuyên qua thành phố rừng thông gặp Saphi­ra, rồi cả hai bay tới bờ vực Tel’naéir.

Oromis đang ngồi trên đùi phải của Glae­dr. Những cái vẩy lóng lánh của rồng già mạ vàng lên một vùng rừng núi.

Er­agon xuống khỏi lưng Saphi­ra, cúi đầu:

– Kính chào hai sư phụ.

Rồng vàng hỏi: “Hai ngươi tự ý quyết định trở lại với Var­den phải không?”

Saphi­ra trả lời: “Chúng tôi phải đi.”

Er­agon không kìm chế nổi, hằn học hỏi:

– Vì sao sư phụ đã che giấu sự thật. Sư phụ không hề cho chúng con biết là quân cách mạng Var­den sắp bị tấn công.

Vị lão tiên vẫn tỏ ra điềm đạm:

– Con muốn biết vì sao không?

– Thưa sư phụ, chúng con rất muốn biết.

Saphi­ra trả lời trước khi Er­agon kịp nói. Cô ả gầm gừ ông anh: “Giữ lễ.”

– Ta còn giữ kín tin này vì hai lý do. Lý do chính là tin Var­den bị đe dọa cũng chỉ mới tới tai chúng ta chín ngày trước. Lực lượng, địa điểm và hướng di chuyển thật sự của đế quốc đều hoàn toàn bí mật, chỉ mới khám phá được ba hôm trước khi quan đại thần Dathe­dr xuyên thủng vòng ma thuật Gal­ba­torix sử dụng để lừa gạt chúng ta.

Er­agon bướng bỉnh:

– Điều đó cũng không đủ cắt nghĩa việc sư phụ không hề nhắc tới chuyện này. Hơn nữa, khi phát hiện việc Var­den đang nguy khốn, vì sao nữ hoàng Is­lanzadí không phát động thần tiên chiến đấu? Chúng ta không phải là đồng minh sao?

– Có đấy, Er­agon. Rừng cây đang vang rền tiếng búa chạm nhau, tiếng bước chân lẻng xẻng của những đôi ủng sắt, tiếng thở than của những người sắp phải lên đường. Vì đây là lần đầu tiên trong một thế kỷ, dòng giống chúng ta mới ra khỏi Du Welden­var­den để thách đấu với kẻ thù nguy hiểm nhất. Thời điểm đã tới để thần tiên công khai bước vào Ala­gae­sia. Con sợ chậm trễ nên rối trí, ta hiểu vì sao. Nhưng lúc này con phải nhìn xa hơn là bản thân mình. Vì thế giới đòi hỏi sự quan tâm của con.

Sượng sùng, Er­agon chỉ còn biết lắp bắp:

– Thưa sư phụ, con xin lỗi.

Nhớ lại lời con quạ trắng Blag­den, nó cười cay đắng, tiếp:

– Con mù lòa như một con dơi.

– Không đâu, Er­agon. Con đã hoàn tất tốt đẹp nhiều việc. Xét hàng núi trách nhiệm chúng ta đặt lên vai con thì đủ rõ. Chúng ta hy vọng hai ngày nữa sẽ nhận được văn thư của Na­sua­da yêu cầu nữ hoàng cấp thêm người hỗ trợ và chuyện con trở lại với Var­den. Ta định tới lúc đó mới báo cho con biết tình hình khó khăn của Var­den, nếu vậy con vẫn còn kịp có mặt tại Sur­da trước cuộc chiến. Nếu thầy cho con biết sớm hơn, mối ràng buộc danh dự sẽ làm con bỏ dở dang việc học, chạy ngay về bảo vệ chủ nhân con. Đó là lý do thầy và nữ hoàng đã giữ kín chuyện này.

– Việc học tập của con sẽ chẳng ích gì nếu Var­den bị hủy diệt.

– Đúng vậy. Nhưng con có thể là người duy nhất tránh cho Var­den bị diệt vong nếu Gal­ba­torix hiện diện trong cuộc chiến này. Nếu lão bạo chúa thật sự sẽ có mặt tại đó, mà thần tiên chưa kịp tới giúp Var­den, con sẽ phải một mình đối đầu với Gal­ba­torix, không có sự bảo vệ của các pháp sư thần tiên. Vì vậy, điều quan trọng là việc học tập của con duy trì được lâu thêm chừng nào càng tốt.

Bao giận hờn trong lòng Er­agon tiêu tan hết, nó chỉ còn cảm thấy kính phục tinh thần cứng cắn, lạnh lùng của sư phụ khi ông thấy việc giữ im lặng là cần thiết. Cảm xúc cá nhân không thích hợp trong hoàn cảnh gay go lúc này, Er­agon trầm tĩnh nói:

– Thầy nói đúng, tới tuyên thệ của con sẽ thôi thúc con phải bảo vệ sự an toàn cho Na­sua­da và Var­den. Tuy nhiên lúc này con chưa sẵn sàng đối đầu với Gal­ba­torix…

– Thầy đề nghị, nếu Gal­ba­torix đích thân xuất trận, con hãy tìm đủ cách làm cho lão rối trí mà xao lãng Var­den, tránh đụng độ trực tiếp với lão. Trước khi hai con đi, thầy chỉ có một yêu cầu: Er­agon và Saphi­ra phải hứa – ngay khi hoàn cảnh cho phép – hai con phải trở lại đây. Còn rất nhiều điều hai con cần học hỏi.

– Chúng con sẽ trở lại.

Vẻ hài lòng, Oromis với từ phía sau một túi vải thêu màu đỏ. Vừa mở túi ông vừa nói:

– Biết trước việc con ra đi, thầy đã thu xếp sẵn ba món quà cho con đây, Er­agon.

Đưa cho nó một chai nhỏ bằng bạc, vị lão tiên ân cần nói:

– Thứ nhất là chai fael­nirv đã được ta làm phép. Chất này sẽ trợ lực cho con có thể chịu đựng khi tất cả thần tiên khác đều đã kiệt lực. Nó còn giúp con một cách hữu hiệu trong nhiều trường hợp khác nữa. Nhớ dè sẻn, vì thầy chỉ đủ thời gi­an làm được bấy nhiêu thôi.

Lấy từ trong túi ra một thắt lưng dài, bằng vải đen và xanh, thêu những dây nho quấn quít, ông trao cho Er­agon. Chiếc thắt lưng dường như dày khác thường và có vẻ nặng nề đối với nó. Tuân lệnh sư phụ, nó kéo dải tua đầu thắt lưng, một đường chính giữa mở ra, để lộ mười hai viên kim cương. Bốn viên trắng, bốn viên đen, bốn viên còn lại màu đỏ, vàng, nâu và xanh dương. Tất cả đều long lanh rực rỡ và lạnh lẽo như băng đá buổi rạng đông, tỏa sắc cầu vồng trong lòng bàn tay Er­agon.

Lắc đầu, nghẹn thở, Er­agon thốt mãi mới thành lời:

– Sư phụ… thầy cho con thứ này, liệu có… có an toàn không?

– Hãy thận trọng, đừng để kẻ nào thấy mà động lòng tham. Đây là đai lưng của Be­loth Khôn Ngoan – con đã đọc về ông trong cuốn Tháng Năm U Tối rồi đó – và là một tài sản quý giá của kỵ sĩ. Đây là những viên kim cương hoàn hảo nhất mà các kỵ sĩ đã tìm ra được. Có viên chúng ta mua của người lùn, có viên là chiến lợi phẩm, có viên do chính chúng ta đào được. Tự thân những viên đá quý này không có phép thuật, nhưng con có thể dùng chúng như những kho dự trữ năng lực của con để sử dụng khi cần thiết. Những viên kim cương này, cộng với viên hồng ngọc trên chuôi thanh Zar’roc, sẽ cho phép con tích lũy công lực, để con sẽ không bị mê muội vì những câu thần chú khi lâm trận, kể cả khi đối đầu với những pháp sư thù địch.

Sau cùng, ông lấy từ trong một ống nhỏ ra cuộn giấy mỏng. Mở cuộn giấy, Er­agon thấy bài thơ nó đã đọc trong Lễ-hội Huyết-​thệ, với nét chữ như rồng bay phượng múa của sư phụ. Đầu mỗi khổ thơ là hình ảnh cây cối, muôn thú cuốn lấy nhau. Oromis nói:

– Ta nghĩ chắc con muốn có một bản chép này.

Một tay cầm cuộn giấy có bài thơ và nét chữ của thầy, Er­agon cúi đầu, nói mấy câu đơn giản tự đáy lòng:

– Con vô vàn cảm tạ sư phụ.

Rồi vị tiên già làm Er­agon kinh ngạc khi ông chắp tay theo đúng nghi lễ thần tiên, trang trọng nói:

– Cầu mong vận may đến cùng con.

– Cầu xin những vì sao che chở thầy.

– Cầu mong tâm hồn con luôn thanh thản.

Ông quay qua lập lại lời chúc với Saphi­ra, rồi bảo:

– Giờ thì các con hãy lên đường, hãy bay nhanh như gió bắc và hãy biết rằng các con đã đem theo mình lời chúc phúc của Oromis: hậu duệ cuối cùng của giòng tộc Thrán­durin, và cũng là Hiền Nhân Sám Hối, Tàn Mà Không Phế.

Rồng vàng Glae­dr vươn cổ, chạm nhẹ đầu mũi Saphi­ra: “Đó cũng là những lời của ta. Saphi­ra, hãy nhớ luôn giữ tâm an lành.” Cô ả ậm ừ trong họng.

Tất cả buồn rầu chia tay. Saphi­ra lướt bay trên cánh rừng già. Hình ảnh vị lão tiên và rồng vàng lẻ loi, nhỏ dần trên bờ vực đá.

Mặc dù thời gi­an ở Ellesméra chịu nhiều khó nhọc, Er­agon vẫn nhớ những ngày chung sống với thần tiên. Vì sau khi rời xa thung lũng Palan­car, chỉ từ khi ở cùng thần tiên, Er­agon mới cảm thấy thân thiết như trong một gia đình.

Nhắm mắt ôm chặt cái gai trên cổ Saphi­ra, Er­agon thầm nhủ: “Mình đã trở thành một con người khác khi rời khỏi nơi này.”

Trước khi đi gặp ông lùn Orik, chúng ghé vào cung Tial­darí. Saphi­ra hạ xuống khu vườn khép kín, thận trọng không để móng vuốt và cái đuôi dài thòng làm hư hỏng những luống hoa. Không đợi cô rồng nằm rạp mình xuống, Er­agon nhảy phóc xuống đất. Trước đây kiểu nhảy này chắc chắn sẽ làm nó bị thương.

Một tiên ông tiến lại, đặt hai ngón tay lên môi cúi đầu hỏi:

– Các vị cần gì?

– Xin cho chúng tôi triều kiến nữ hoàng.

– Xin Bàn-​tay-​bạc vui lòng chờ tại đây.

Chưa đầy năm phút, nữ hoàng Is­lanzadí xuất hiện. Chiếc áo choàng màu đỏ của bà như một giọt máu gữa màu áo trắng của thần tiên nam nữ cận thần. Sau nghi lễ chào hỏi, nữ hoàng nói:

– Oromis cho ta biết hai người định rời xa chúng ta. Dù không vui nhưng ta chẳng thể nào ngăn cản được ý của số mệnh.

– Tâu nữ hoàng, chúng thần tới để tỏ lòng tôn kính trước khi lên đường. Nữ hoàng đã quá bận tâm và ưu ái chúng thần. Chúng thần đã được hưởng ơn nữ hoàng nhiều quá.

– Không có gì là ân huệ hết. Chúng ta chỉ mới trả được một phần nhỏ những gì chúng ta còn mang nợ các kỵ sĩ và loài rồng, vì thất bại thảm hại của chúng ta trong sự kiện suy sụp của kỵ sĩ. Er­agon, khi tới Sur­da, hãy chuyển lời ta thăm hỏi công nương Na­sua­da và đức vua Or­rin, đồng thời báo cho họ biết, chiến binh của ta sắp tấn công mặt bắc của Đế quốc. Nếu may mắn, chúng ta sẽ lừa được Gal­ba­torix, giúp thời gi­an cho những cánh quân khác xé nhỏ lực lượng của bạo chúa.

– Xin tuân lệnh.

– Ta cũng đã phái mười hai pháp sư cao tay nhất tới Sur­da. Họ sẽ được đặt dưới quyền kỵ sĩ và sẽ bằng mọi giá bảo vệ kỵ sĩ suốt đêm ngày.

– Đa tạ nữ hoàng.

Bà xòe bàn tay. Một cận thần dâng lên một hộp gỗ. Mở cái hộp, bà lấy ra cây cung cẩn bạc hình những chiếc lá phong du và ống tên với những mũi tên bằng lông thiên nga.

– Giờ thì kỵ sĩ đã có sức mạnh như thần tiên chúng ta, kỵ sĩ cần phải có một cây cung của thần tiên. Ta đã tự hát để tạo ra cây cung này từ một cây thủy tùng. Dây cung sẽ không bao giờ bị đứt. Còn những mũi tên này sẽ không bao giờ lạc mục tiêu, kể cả khi trời lộng gió.

Quá bối rối vì sự hào phóng của nữ hoàng, Er­agon cúi đầu nói:

– Muôn tâu, thần biết nói sao đây? VÌ tặng vật cho thần mà lệnh bà phải nhọc nhằn ngọc thể.

Nữ hoàng gật đầu rồi quay qua Saphi­ra:

– Ta không thể nào nghĩ ra được một quà tặng cho mi, Saphi­ra, nhưng nếu mi thích bất kỳ thứ gì tại đây, cứ nói ta rất vui lòng ban tặng.

– Rồng không hề coi tài sản là niềm vui. Giàu có với rồng có nghĩa gì, khi bộ giáp của rồng lộng lẫy sáng ngời hơn bất cứ kho tàng nào trên thế gi­an? Không, thần đã được vui vì tấm lòng ưu ái của lệnh bà đối với Er­agon rồi.

Nữ hoàng chúc cả hai lên đường bằng an, trước khi ra khỏi vườn bà ngừng lại, nói với Er­agon:

– Hãy chuyển lời ưu ái của ta tới Arya và hãy bảo hoàng cung Ellesméra rất nhớ công chúa.

Sau mấy lời nói đầy vẻ xã gi­ao, không đợi Er­agon trả lời, nữ hoàng Is­lanzadí đi khuất sau những thân cây bao quanh cung Tial­darí cùng các cận thần.

Nửa phút sau Er­agon và Saphi­ra bay tới bãi tập. Ông lùn Orik đang ngồi trên túi hành lý căng phồng, hai tay thảy qua thảy lại cây búa vũ khí. Thấy Er­agon, ông đứng dậy làu bàu:

– Đến rồi cơ à?

Er­agon xin lỗi vì sự chậm trễ rồi móc túi hành lý của Orik lên sau yên rồng. Ông lùn ngược lên nhìn đôi vai Saphi­ra lù lù trên cao, ca cẩm:

– Ôi, làm sao tôi leo được lên đó chứ? Một bờ vực còn có nhiều chỗ để bám tay hơn thân mình mi, Saphi­ra.

– Đây.

Saphi­ra ép sát bụng trên mặt đất, duỗi dài một chân trước, làm cầu cho ông lùn. Ì cạch đánh đu lên ống chân, ông lùn rón rén bò lên đùi cô rồng. Tia lửa nhỏ phì ra từ hai lỗ mũi Saphi­ra khi nó cằn nhằn:

– Lẹ lên cha, nhột quá hà.

Orik đặt hai chân hay bên gai sống lưng Saphi­ra, thận trọng bước từ từ tới cái yên. Er­agon tủm tỉm cười:

– Đừng nhào xuống nhé.

Khi Orik đã yên vị trên yên, Er­agon leo lên Saphi­ra, ngồi sau ông lùn. Để giữ cho Orik không bị chao đảo khi Saphi­ra bay lộn, nó nới lỏng dây an toàn, nhét hai chân ông lùn vào trong.

Saphi­ra đứng thẳng lên, Orik nắm chặt gai rồng, quay lại Er­agon:

– Ui cha, cho đến khi lên tới trên không, đừng bắt tôi mở mắt đấy nhé, Er­agon. Thật kỳ cục. Người lùn sinh ra đâu phải để cưỡi rồng. Chưa bao giờ lại có chuyện ngược đời như thế này.

– Chưa bao giờ sao?

Orik lắc đầu, không dám mở miệng trả lời.

Từng nhóm thần tiên từ Du Welden­var­den tiến ra tụ tập bên lề bãi tập, buồn rầu nhìn Saphi­ra vươn cánh sửa soạn bay lên.

Er­agon nắm chặt tay vịn khi cảm thấy những sợi gân mạnh mẽ phi thường của Saphi­ra cuồn cuộn dưới chân nó. Với một cái nhún mình, Saphi­ra phóng lên bầu trời xanh, vỗ mạnh hai cánh, vượt khỏi những hàng cây khổng lồ. Lượn vòng xoắn ốc lên cao dần, rồi cô rồng cái nhắm hướng nam, tiến về sa mạc Hadarac.

Dù gió lộng vù vù bên tai. Er­agon còn nghe giọng một tiên nữ véo von, cất lên từ hoàng cung Ellesméra, bài ca nó đã nghe lần đầu khi mới tới đây:

Bay đi anh hãy bay đi

Bay qua thung lũng núi đồi

Tới vùng đất xa xôi đó

Bayđi anh cứ bay đi

Đừng bao giờ trở lại cùng em nữa…

Cuống họng của đại dương

Lớp đá gương thiên tạo vồng lên dưới Cánh Rồng, đẩy con tàu vọt cao lên không. Cánh Rồng chao đảo trên ngọn sóng ngầu bọt, rồi lao xuống máng nước không lồ đen ngòm bên dưới. Sương mù cuồn cuộn trong không khí giá lạnh, gió gầm rú như tiếng ma quỷ gọi hồn.

Ro­ran nắm lan can tàu, nôn khan toàn nước mật đắng chát. Khi còn trên xà-​lan của Clo­vis, Ro­ran tự khen mình không hề bị say sóng, nhưng trận giông này quá dữ dội, kể cả những thủy thủ dày dạn nhất của Uthar cũng nôn thốc tháo đến giọt rượu cuối cùng.

Con sóng như cột nước đá khổng lồ chụp lên Ro­ran, tràn ngập khắp sàn tàu, rồi ào ào rút qua những lỗ thoát nước, đổ lại xuống biển. Ro­ran đưa mấy ngón tay tê cóng lên gạt nước mặn trên mắt, liếc nhìn chân trời đen như mực phía sau.

loading...

“Cơn giông này chắc làm chúng mất dấu mình rồi.” Ba con thuyền nhỏ, buồm đen, đuổi theo những người chạy trốn từ khi Cánh Rồng vừa qua khỏi Dốc-vực-sắt và vòng sang một địa danh – ông Jeod gọi là Edur Carthun­gave, còn Uthar lại gọi là Đỉnh Thúc Ngựa của Rath­bar – Uthar cười bảo: “Chính xác thì nơi này là khúc xương đuôi của núi Spine.”

Vì Cánh Rồng quá nặng nề với toàn thể dân làng, nên ba con thuyền nhỏ đã theo kịp tới tầm tên bắn. Nguy hiểm hơn nữa là, dường như trên con thuyền dẫn đầu có một pháp sư. Những mũi tên của chúng nhắm trúng đích một cách lạ lùng. Dây bị đứt, máy bắn đá và ụ phòng thủ bị phá hủy… Theo cách tấn công của bọn chúng, Ro­ran suy luận triều đình không còn ý định bắt sống anh nữa, mà bằng mọi giá ngăn chặn việc anh tới với Var­den. Khi có một cơn mưa xối xả đổ xuống, cùng cơn giông bão ầm ầm từ hướng bắc kéo tới, Ro­ran mới thu xếp cho dân làng sẵn sàng đẩy lui những kẻ xâm nhập lên tàu. Ngay lúc đó, Uthar cho Cánh Rồng nương theo hướng gió, quay mũi tàu về mấy đảo phía nam, hy vọng lẩn trốn thuyền nhỏ trong vùng vịnh nước nóng của Beird­land.

Những lằn chớp lóe lên cuối chân trời, cảnh vật như một bức tranh nhợt nhạt thoáng hiện ra rồi lại chìm ngập trong đêm tối.

Liên tiếp hàng loạt tia chớp xuất hiện và Ro­ran thấy ngọn cột buồm định hướng ngả nghiêng, rồi gãy rời, văng xuống biển, kéo theo đuôi tàu chìm thấp xuống. Nắm chặt dây an toàn, Ro­ran đu lên buồng lái, cùng Bon­den chặt đứt mấy sợi dây cáp nối giữa Cánh Rồng và đỉnh trụ buồm dưới nước.

Sau đó, Ro­ran xuống boong, tay luôn nắm chặt lan can dưới những đợt sóng cao năm thước… mười thước phủ lên tàu làm anh lạnh buốt tới xương.

Ro­ran cầu xin mà không biết cầu xin ai: “Đừng bắt tôi chết tại đây. Đừng để tôi chết giữa những đợt sóng tàn nhẫn này, khi công việc của tôi chưa hoàn tất.” Suốt đêm dài dằng dặc đó, Ro­ran bám lấy những kỷ niệm về Ka­tri­na làm niềm an ủi, khi trong lòng tràn ngập lo âu và gần như không còn chút hy vọng nào.

Trận giông bão kéo dài suốt hai ngày rồi tan dần vào lúc nửa đêm. Hôm sau, bình minh xuất hiện với bầu trời trong xanh và… ba cánh buồm đen đang bồng bềnh nơi hướng bắc. Phía tây nam, Beir­land lờ mờ hiện ra dưới những dải mây lững lờ quanh đỉnh núi sừng sững trên đảo.

Ro­ran, ông Jeod và Uthar gặp nhau trong một phòng nhỏ gần mũi tàu – vì phòng họp của thuyền trưởng đã dành cho những người già yếu. Uthar trải tấm hải đồ lên bàn, chỉ một điểm phía trên Beir­land, nói:

– Chúng ta đang ở đây.

Lấy một bản đồ bờ biển Ala­gae­sia, Uthar chỉ cửa sông Ji­et, tiếp:

– Còn đây là điểm tới của chúng ta, vì lương thực không đủ để tới thẳng Reav­stone. Nhưng cho dù có đủ lương thực chúng ta cũng không thể tới đó được. Đỉnh cột buồm lái bị gãy, mấy con thuyền đáng nguyền rủa kia chắc chắn sẽ theo kịp chúng ta vào trưa mai.

Ông Jeod hỏi:

– Chúng ta có thể thay buồm khác không? Những con tàu to lớn như thế này, chắc phải đem theo cột để thay thế chứ.

– Có thể, nếu chúng ta có thợ mộc chuyên môn về tàu thủy. Không thể cho một tay mơ leo lên cây cột mấy chục mét, sơ sẩy cột đổ còn làm thêm cả đống người bị thương nữa.

Ro­ran hậm hực

– Nếu chúng không có pháp sư theo, ta dư sức quay lại choảng cho chúng một trận. Mấy người trên ba con thuyền nhỏ xíu kia so với chúng ta chẳng có ý nghĩa gì. Nhưng nếu chọi với phép thuật, tôi e chúng ta khó thắng, cứ suy từ bao nhiêu con tàu tiếp tế cho Var­den đều đã biến mất thì đủ biết.

Uthar khoanh vòng nơi Cánh Rồng đang di chuyển, rồi góc ngón tay lên một điểm:

– Nếu gió chiều lòng chúng ta, chúng ta sẽ đến được nơi này vào chiến tối mai. Cặp tàu vào Beir­land hoặc Nía cũng được. Nhưng tôi cũng không biết chắc ra sao. Có thể chúng ta sẽ bị sập bẫy đám lính trên ba thuyền kia, Ra’zac hoặc có thể là chính Gal­ba­torix.

Ro­ran thầm lo lắng: “Một cuộc đụng độ với lính trên thuyền khó mà tránh khỏi.”

Mấy phút trôi qua, trong phòng im phăng phắc, chỉ còn nghe tiếng sóng vỗ mạn tàu. Rồi ông Jeod chỉ một điểm giữa Beir­land và Nía, nhìn Uthar hỏi:

– Mắt-lợn-​lòi thì sao?

Ro­ran ngạc nhiên thấy vẻ khiếp đảm trên mặt Uthar:

– Ông Jeod, tôi không dám thí mạng như vậy đâu. Thà tôi bỏ thây trên biển vì ba chiếc thuyền kia, còn hơn phải đâm đầu vào địa ngục đó…

Jeod ngả người trên ghế, lẩm bẩm:

– Tôi nhớ đã đọc đâu đó, giữa hai đợt thủy triều lên, xuống, lộ trình rất an toàn. Có đúng vậy không?

Uthar miễn cưỡng gật đầu:

– Nhưng… Mắt-lợn-​lòi bao la lắm. Phải canh giờ chính xác mới không bị tan nát tàu bè. Với áp lực ba thuyền kia đang đuổi theo, làm sao chúng ta đủ thời gi­an để tính toán giờ giấc được.

– Nhưng nếu chúng ta có thể canh được giờ chính xác, thì chính ba con thuyền kia mới bị tan nát, hoặc phải bắt buộc quay hướng sang Nía. Lúc đó ta có đủ thời gi­an tìm nơi ẩn núp dọc theo Beir­land.

– Nếu, nếu… Ông sẽ đẩy chúng tôi chết chìm hết ráo dưới đại dương.

– Thôi nào, Uthar, anh hoảng hốt một cách vô lý quá. Thú thật, ý kiến của tôi có phần nguy hiểm, nhưng chưa nguy hiểm bằng khi chúng ta chạy trốn khỏi thành Teirm. Hay anh nghi ngờ khả năng của anh không đủ để điều khiển con tàu qua lỗ hổng đó? Dũng khí đàn ông của anh đâu?

– Chưa bao giờ ông thấy Mắt-lợn-​lòi, đúng không? Không phải tôi thiếu can đảm, nhưng vực nước đó vượt quá sức con người. Nó bất chấp những con tàu to lớn nhất, những ngôi nhà đồ sộ nhất, hoặc bất cứ thứ gì người ta có thể nghĩ ra để vượt qua nó. Thử thời vận với nó là đâm đầu vào cõi chết.

Ro­ran ngơ ngác hỏi:

– Nhưng… Mắt-lợn-​lòi là gì?

Uthar nói như rên:

– Là cái cuống họng tham lam của đại dương, ăn tươi nuốt sống tất cả những gì vượt qua nó.

Ông Jeod bình tĩnh cắt nghĩa:

– Ro­ran, đó là một dòng nước xoáy, tạo nên bởi những luồng sóng lớn đối đầu nhau giữa Beir­land và Nía. Khi thủy triều lên mạnh, Mắt-lợn-​lòi xoay chiều từ bắc sang tây. Khi thủy triều rút, nó chuyển từ bắc sang đông.

– Vậy thì có gì là nguy hiểm quá đâu?

Nghe Ro­ran nói, Uthar lắc đầu, dải tóc bím hất qua lại hai bên cổ rám nắng:

– Ha ha, nghe cậu ta nói kìa. Có gì quá nguy hiểm đâu!

Jeod lại nói:

– Cháu không thể ngờ nó rộng lớn đến thế nào đâu. Tính trung bình, trung tâm Mắt-lợn-​lòi đường kính khoảng một hải lý. Những nhánh tỏa ra chung quanh nó từ mười tới mười lăm dặm. Những con tàu bất hạnh sa bẫy nó, sẽ lọt thỏm xuống đáy đại dương, tan nát vì va chạm phải tầng đá tua tủa trong lòng biển. Người ta thường bắt gặp những mảnh tàu bồng bềnh dạt vào hai hòn đảo Beir­land và Nía này.

Ro­ran hỏi:

– Liệu có ai đồng ý qua lối này cùng chúng ta không?

Jeod lắc đầu. Uthar càu nhàu:

– Chắc chắn không có ai.

– Có cách nào vượt qua Mắt-lợn-​lòi được không.

– Đó là một việc làm liều lĩnh ngu ngốc nhất.

– Uthar, tôi biết là anh không muốn liều mạng, nhưung chúng tôi không còn lựa chọn nào khác. Tôi không phải là dân đi biển, vì vậy tôi chỉ còn biết tin vào sự phán đoán của anh. Chúng ta vượt qua Mắt-lợn-​lòi nổi không?

Uthar ngập ngừng:

– Có thể được, có thể không. Cách con quái vật đó chừng năm dặm, người ta đã như lên cơn mê sảng rồi.

Rút ra cây búa, Ro­ran chém phập xuống bàn:

– Vậy thì tôi là một kẻ mê sảng đây. Có cần phải nhắc nhở anh, chúng ta không vượt qua chặng đường xa xôi đến thế để tới đây nghe mấy câu lảm nhảm không thể, không nên. Dân Car­va­hall cùng tôi đã dám bỏ lại cửa nhà, xuyên qua núi Spine. Ông Jeod đã dám nghĩ ra việc lấy trộm con tàu Cánh Rồng. Chúng ta còn sẽ dám làm những gì nữa, anh Uthar? Nếu anh dũng cảm thắng Mắt-lợn-​lòi và sống để kể lại chuyện này, anh sẽ là một nhà hàng hải vĩ đại nhất trong lịch sử. Bây giờ xin anh trả lời tôi, trả lời một cách chân thật. Có thể làm được chuyện này không?

Uthar vuốt mặt, khi cất tiếng nói giọng anh ta dịu hẳn lại:

– Tôi không biết, Cây-​búa ạ… Nếu chúng ta đợi cho Mắt-lợn-​lòi rút xuống, thì ba thuyền kia sẽ bắt kịp và nếu ta thoát được, chúng cũng sẽ thoát theo. Còn nếu gió đổi chiều, chúng ta sẽ bị cuốn theo dòng xoáy.

– Là chỉ huy trên tàu, anh có nhiệt tình làm chuyện này không? Ông Jeod và tôi không thể nào thay thế anh được.

Trừng trừng nhìn xuống tấm hải đồ một lúc lâu, rồi Uthar kẻ mấy đường từ điểm họ đang hiện diện tới mấy hình ảnh mà Ro­ran không hiểu. Sau cùng người thủy thủ lên tiếng:

– Tôi e chúng ta sẽ đi vào cõi chết, nhưng được, tôi sẽ cố hết sức để vượt qua.

Chạy đua với Mắt-lợn-​lòi

Ngày hôm đó, ba thuyền nhỏ vẫn bám theo Cánh Rồng. Ro­ran nhìn chúng phăng phăng tiến, Ro­ran lo ngại ba cánh buồm đen sẽ rút ngắn khoảng cách, đủ để tấn công, trước khi Cánh Rồng tới kịp Mắt-lợn-​lòi. Tuy nhiên, dường như Uthar vẫn còn khả năng cho con tàu lớn vượt trước chúng.

Theo lệnh Uthar, Ro­ran cùng dân làng thu xếp cho tàu ngăn nắp lại sau cơn bão và sửa soạn tinh thần đón chờ thử thách sắp tới. Tất cả dọn dẹp cho tới khi đêm xuống và tắt hết đèn, hầu để đánh lạc hướng mấy con thuyền đang bám theo sau. Mẹo nhỏ đó cũng đem lại chút kết quả, vì khi mặt trời lên, Ro­ran thấy chúng đang cách xa Cánh Rồng chừng vài dặm về phía bắc. Tuy nhiên ngay sau đó, ba thuyền nhỏ cũng đã phát hiện ra sai lầm của chúng.

Gần trưa, Ro­ran leo lên cột buồm chính, chui vào giỏ lưới cách sàn tàu chừng 40 mét để quan sát.

Lấy ống nhòm từ trong áo ra, Ro­ran điều chỉnh cho tới khi thấy rõ ba thuyền nhỏ, cách xa chừng bốn dặm, đang tiến tới mau hơn anh tưởng. “Chúng đã nhận ra ý định của tàu mình.” Ro­ran nghĩ. Anh đảo quanh ống nhòm tìm dấu hiệu của Mắt-lợn-​lòi. Một đĩa bọt nước khổng lồ lớn như một hòn đảo, đang xoay vòng từ bắc sang đông. Bụng anh thắt lại: “Chúng ta chắc không kịp mất rồi.” Thủy triều đang rút mạnh. Ro­ran cố vươn mình ra ngoài giỏ lưới: qua ống nhòm anh thấy sợi dây Uthar thắt nơi đuôi tàu, để phát hiện nếu tàu đi vào vùng nước xoáy, đang bồng bềnh dọc sườn tàu, thay vì kéo thẳng ra sau. Điều may mắn duy nhất là Cánh Rồng đang trôi thuyền theo luồng nước của Mắt-lợn-​lòi. Nếu không, chỉ còn cách chờ cho tới khi nước rút trong thủy triều ngày mai.

Từ bên dưới, tiếng Uthar vang vang kêu gội dân làng bố trí người cầm chèo. Chỉ một thoáng, từ hai bên mạn tàu những mái chèo tua tủa vươn ra, làm con tàu trông giống như một con nhện khổng lồ đang bước đi trên mặt nước. Một tiếng trống vang lên cùng tiếng bắt nhịp của Bon­den, các mái chèo để lại những vạch nước ngầu bọt trắng xóa trên mặt biển phía sau Cánh Rồng. Con tàu tăng tốc, vượt nhanh hơn ba thuyền nhỏ vẫn còn ở ngoài tầm ảnh hưởng của Mắt-lợn-​lòi.

Ro­ran khiếp đảm nhìn những gì đang diễn ra chung quanh. Mấu chốt thiết yếu để thành công bây giờ là thời gi­an. Vì dù có muộn, nhưng với sự phối hợp của mái chèo và những cánh buồm, Cánh Rồng đủ thời gi­an để vượt qua Mắt-lợn-​lòi không? Ba thuyền nhỏ kia có tăng cường mái chèo để rút ngắn khoảng cách và cũng sẽ cùng Cánh Rồng sống sót? Ro­ran bồn chồn lắng nghe tiếng trống rộn ràng như đo thời gi­an từng phút. Anh giật thót người khi thấy một bàn tay níu thành giỏ lưới, rồi Bal­dor nhô đầu lên nói:

– Kéo mình lên với.

Ro­ran nghiêng mình kéo Bal­dor lên. Vừa đưa cho Ro­ran một cái bánh qui và một quả táo khô Bal­dor vừa nói:

– Cứ tưởng tượng đây là bữa cơm trưa đi. Cậu thấy Mắt-lợn-​lòi chưa?

Ro­ran ăn bánh, đưa ống nhòm cho Bal­dor.

Chứng nửa tiếng sau, cái đĩa bọt nước tăng độ xoáy, những vòng quay lên cao tới đỉnh. Mặt nước chung quanh vồng lên, đẩy đĩa bọt trắng khỏi tầm nhìn, lọt thỏm qua miệng hố khổng lồ, chui tọt xuống đáy biển. Hơi nước mù mịt như sương mù và từ hố sâu thăm thẳm như cái cuống họng đen ngòm của đại dương phát lên tiếng hú thê lương dài dằng dặc như tiếng một con sói bị thương.

Nhìn tốc lực khủng khiếp của Mắt-lợn-​lòi, Ro­ran hốt hoảng bảo Bal­dor:

– Cậu xuống cho Uthar hay ngay đi.

Leo qua giỏ lưới, Bal­dor căn dặn Ro­ran:

– Buộc chặt mình vào cột buồm đi, coi chừng cậu bị rơi xuống biển đó.

Ro­ran gật. Anh buộc thân trên vào cột buồm, để dễ dàng rút dao găm cắt dây ngay khi cần thiết.

Con tàu mới vượt vào vùng của Mắt-lợn-​lòi khỏi một dặm. Phía sau, ba thuyền nhỏ còn cách xa Cánh Rồng hai dặm. Nhưng nguy hiểm hơn là, bị cản trở bởi cột nước xoáy, gió bỗng điên đảo đổi hướng, từ phía này sang phía kia rồi ngược lại. Mấy cánh buồm căng phồng, rũ xuống, lại căng lên.

Ro­ran thầm nhủ: “Có lẽ Uthar có lý. Mình quá chủ quan. Không thể thắng một đối thủ bằng sự may mắn được. Đương đầu với sức mạnh của thiên nhiên như thế này, chắc mình đưa dân làng đến cái chết mất thôi!”

Lúc này, chu vi hố thẳm của Mắt-lợn-​lòi chừng hơn chín dặm, còn chiều sâu của cái cuống họng khủng khiếp đó thì chỉ có kẻ xấu số lọt vào mới có thể biết được. Vách Mắt-lợn-​lòi nghiêng vào bên trong bốn mươi lăm độ, tạo lên những đường xoắn ốc như đất sét ướt đang được nắn trên bàn nặn gốm. Tiếng hú càng lúc càng lớn hơn, Ro­ran tưởng như cả thế giới sắp rụng rời thành từng mảnh. Từ vùng sương mù trên miệng hố quay cuồng đó, một cầu vồng rực rỡ chợt xuất hiện.

Lồng nước chảy xiết hơn, khi Cánh Rồng vòng sát mép vùng nước xoáy, mỗi lúc càng như kéo con tàu vào vực thẳm. Nhưng thật kỳ diệu, con tàu chỉ nghiêng sang phải, treo Ro­ran lơ lửng trên mặt nước cuồn cuộn bên dưới.

Bất chấp tốc độ vượt bậc của Cánh Rồng, ba thuyền nhỏ vẫn không bỏ cuộc. Những mãi chèo của chúng vẫn hoàn hảo nhịp nhàng. Nhìn cảnh đó Ro­ran không thể không thầm cảm phục.

Trong khi con nước xoáy càng dữ dội hơn, hơi nước trắng mịt mù phun ra từ miệng cuống họng khổng lồ, ba thuyền địch đã hiển hiện trước mắt thường. Không cần thiết tới ống nhòm nữa, Ro­ran cất lại vào trong áo.

Cánh Rồng nương theo triền nước, Uthar cố gắng quay hướng tàu ra biển cả. Sống tàu rung lên, tốc độ chợt giảm một nửa khi Cánh Rồng ráng sức vùng ra khỏi nanh vuốt của Mắt-lợn-​lòi. Cột buồm chao đảo làm Ro­ran chóng mặt đến choáng váng.

Cắt vội dây quanh mình, Ro­ran quăng mình vào thành giỏ lưới, nắm dây bên dưới, tụt xuống. Nhảy lên boong, anh chạy xuống, cầm mái chèo, nhập bọn ngay cùng nhóm của Bal­dor và Al­briech.

Không ai nói một lời, gồng mình chèo trong tiếng trống thôi thúc, tiếng gào đến khản giọng của Bon­den, tiếng gầm hú của Mắt-lợn-​lòi và những tiếng thở dồn dập đầy tuyệt vọng. Ro­ran cảm thấy rõ ràng sức cản của dòng nuớc xoáy khổng lồ chống cự lại với mỗi nhịp chèo.

Nhưng tất cả những nỗ lực đó cũng không ngăn được con tàu đứng khựng lại. Sự cố sức làm chân và lưng Ro­ran rát bỏng. Xen lẫn trong tiếng trống, anh nghe tiếng Uthar bên trên gào thét ra lệnh xoay buồm, lợi dụng sức gió đang đổi hướng.

Dar­mmen và Hamind, ngồi trước Ro­ran, buông mái chèo cho Thane và Ri­dley, rồi nằm dài trên lối đi, chân tay run rẩy. Chưa đầy một phút sau, Bir­git và mấy người đàn bà phải cấp tốc thế chỗ cho những tay chèo bị ngất xỉu.

Ro­ran nghĩ: “Nếu chúng ta sống sót được, là nhờ có nhiều người thay thế kịp thời.”

Thời gi­an như kéo dài vô tận trong không khí ngột ngạt đầy khói khi Ro­ran phải triền miên đẩy và kéo mái chèo. Anh cố quên thân thể mỗi lúc càng thêm đau nhức, cổ mệt mỏi rã rời vì phải cúi gục dưới mái trần thấp lè tè, mái chèo đầm đìa máu trong hai bàn tay rách nát, Ro­ran xé áo, bọc ngoài mái chèo trước khi chèo tiếp.

Sau cùng Ro­ran cũng không thể gượng hơn được nữa. Chân mất cảm giác, người anh đổ nhào sang một bên và trượt dài trên sàn vì người ướt đẫm mồ hôi. Anh nằm im cho đến khi có thể thở lại bình thường, rồi chống tay bò tới cửa hầm.

Như người say rượu, Ro­ran leo lên thang, thân hình lắc lư theo con tàu chao đảo rồi phải ngồi thụp xuống dựa tường thở dốc.

Lên boong, anh đứng hít thở không khí mát mẻ cho đầy buồng phổi, rồi loạng choạng đi về buồng lái.

– Sao rồi?

Đang điều khiển bánh lái, đáp lại câu hỏi của Ro­ran, Uthar chỉ lắc đầu.

Nhìn ra ngoài, Ro­ran thấy ba thuyền nhỏ cách khoảng chừng nửa dặm hơi chệch hướng về tây, gần trung tâm Mắt-lợn-​lòi. Ba cánh buồm đen cũng đứng khựng lại như tàu Cánh Rồng.

Lúc đầu, khi Ro­ran quan sát, dường như cả con tàu và ba thuyền nhỏ đều im lìm tại chỗ. Nhưng rồi anh cảm thấy Cánh Rồng bỗng rung động, như con tàu vừa vượt qua một trở ngại khó khăn và đã hồi phục sức lực. Tốc lực của nó tăng lên chừng chỉ vài mét mỗi phút, nhưng như vậy cũng đủ làm khoảng cách với thuyền địch nhiều hơn một chút. Với mỗi sải chèo, tốc lực Cánh Rồng lại tăng thêm.

Bên kia, ba cánh buồm đen không thể vượt qua sức mạnh khủng khiếp của dòng nước xoáy. Mái chèo của chúng chậm dần. Ba con thuyền bồng bềnh dạt ngược lại vào tấm màn mịt mù hơi nước – qua màn sương đó, bức tường nước xoay tròn đang chờ đợi, sẵn sàng cuốn chúng xuống đáy đại dương lởm chởm toàn đá.

“Họ không còn đủ sức chèo nữa. Tay chèo quá ít, quá mệt mỏi rồi.” Vừa nghĩ Ro­ran vừa chạnh lòng thương những kẻ trên ba con thuyền nhỏ.

Ngay lúc đó, một mũi tên từ chiếc thuyền gần nhất, bay vèo lên Cánh Rồng. Chắc chắn mũi tên có sự hỗ trợ của phép thuật mới bay xa tới vậy. Mũi tên cắm phập lên cánh buồm định hướng, nổ tung ra những giọt lửa li ti. Những đốm lửa bám chặt vào bất cứ vật gì chúng chạm phải. Chỉ một thoáng, hai mươi vết cháy nhỏ loang trên thân cột, cánh buồm và cả trên mặt boong tàu.

Một thủy thủ hốt hoảng la lên:

– Làm sao dập tắt được.

Uthar gào lớn:

– Chặt bỏ những chỗ cháy, quăng xuống biển ngay.

Tháo đai lưng, Ro­ran vừa dập vừa đạp chân lên những đốm lửa xanh, ngăn chặn ngay đám cháy không lan rộng thêm được nữa.

Ngay khi có tiếng reo: “Dẹp sạch rồi!”, Uthar nới lỏng hai tay đang xiết chặt bánh lái, thở phào:

– Nếu đây là phép thuật cao cường nhất của tên pháp sư này, thì chúng ta chẳng có gì phải sợ hắn nữa.

Ro­ran sôi nổi hỏi cho niềm hy vọng thêm vững chắc:

– Chúng ta sẽ vượt được Mắt-lợn-​lòi, phải không?

Uthar ưỡn ngực, thoáng nụ cười vừa kiêu hãnh vừa như không thể nào tin nổi:

– Cho tới khi thủy triều giảm hẳn, mới thật sự qua khỏi cái hố toang hoác kia, nhưng chúng ta gần tiến tới thành công rồi.

Ro­ran chạy vội xuống thay ca chèo, và khi anh đổi ca, trở lên boong, dòng nước xoáy đang dịu dần. Tiếng hú ma quái giảm từ từ thành tiếng gió thổi bình thường, mặt nước phẳng lặng, không để lại chút vết tích của cơn cuồng nộ vừa qua; sương mù tan trong những tia nắng vàng ấm áp. Mắt-lợn-​lòi hung hãn chỉ còn lại là một cái đĩa toàn bọt nước vàng nhẹ nhàng quay tròn trên mặt nước.

Và chính giữa đám bọt vàng kia, Ro­ran nghĩ là đang nhìn thấy, lờ mờ hình bóng ba cánh buồm đen tan nát đang xoay vòng theo dòng nước xoáy mãi xoáy mãi xuống đại dương sâu thẳm. Nhưng có thể đó chỉ là hình ảnh trong trí tưởng tượng của anh.

Thím Elain lên boong, một cánh tay đặt trên bụng bầu to đùng, tiến lại bên Ro­ran. Giọng thím nhẹ nhàng nhỏ nhẻ:

– Ro­ran, chúng ta đã may mắn. May mắn hơn cả chúng ta hy vọng.

– Dạ, đúng vậy.

Mục lục
loading...