Menu

ER­AGON – CẬU BÉ CƯỠI RỒNG FULL 4 TẬP-Quyển 2.Chương 4


Er­agon – Cậu Bé Cưỡi Rồng Full 4 Tập


Tác giả: Christo­pher Paoli­ni


Q.2 – Chương 4: Ro­ran

Ro­ran mệt mỏi lê từng bước lên đồi. Ngước nhìn mặt trời qua mớ tóc lòa xòa trước mắt, anh thầm nhủ: “Mình không thể ở đây lâu được, ít nhất năm tiếng nữa mặt trời mới lặn.”

Thở dài, Ro­ran tiếp tục đi dọc theo những hàng cây phong du, qua những bụi cỏ hoang mọc lan tràn. Từ khi cùng chú Horst và sáu dân làng Car­va­hall thu gom những gì còn sót lại của ngôi làng bị thiêu rụi điêu tàn, đây là lần đầu tiên – sau gần năm tháng – Ro­ran mới trở lại thăm mảnh đất này.

Tới đỉnh đồi, anh khoanh tay nhìn xuốn tàn tích ngôi nhà của tuổi thơ mình. Tất cả đã thành bình địa chìm dưới cỏ dại, chỉ còn sót lại một góc tường xiêu vẹo, đổ nát. Không còn thấy một chút gì của chuồng gia súc. Thửa vườn canh tác hàng năm, giờ ngập trong cỏ, bồ công anh và cải dại. Lác đác mấy cây cải đường, cải trắng còn sống sót. Cuối khu đất, hàng cây dày đặc che khuất dòng sông Ano­ra.

Tay nắm chặt, hai hàm răng nghiến lại, Ro­ran cố chống lại sự phẫn nộ và đau khổ. Anh đứng như chôn chân xuống đất suốt nhiều phút, mỗi một kỷ niệm hạnh phúc ngày xưa trở lại trong tâm trí, làm toàn thân anh run rẩy. Nơi đây từng là cả cuộc đời mình, cả quá khứ và tương lai. Cha anh thường bảo: “Đất đai là một thứ vô cùng quý giá. Chăm sóc nó, nó sẽ chăm sóc lại con.”

Ro­ran đã tâm niệm làm theo đúng lời cha, cho đến giây phút thế giới của anh như sụp đổ khi Bal­dor lén nhắn tin cho anh…

Thở dài, Ro­ran trở ra đường cái. Nỗi bàng hoàng khi nhận được tin nhắn vẫn còn hôi hổi trong anh. Mất tất cả những người thương yêu cùng một lúc làm anh thay đổi và chắc sẽ không bao giờ nguôi ngoai được. Sự việc đó thấm đẫm vào con người Ro­ran từ thái độ đến diện mạo. Nó bát anh phải suy nghĩ nhiều hơn, suy ngẫm đến cả những điều mà trước kia anh chưa hề tưởng tượng tới. Chẳng hạn, có thể anh không thể trở thành một nông dân được, hoặc cái công lý – đầy rẫy trong những bài ca và truyện cổ – là điều quá hiếm hoi trong đời sống thật.

Ra tới đường cái, Ro­ran đi về hương bắc, xuyên qua thung lũng Palan­car, để trở lại làng Car­va­hall. Những khe núi hai bên đường vẫn đầy tuyết, dù cỏ xanh báo hiệu mùa xuân đã phủ tràn thung lũng từ mấy tuần trước. Trên cao một dải mây xám lững lờ trôi về đỉnh núi.

Vừa xoa tay leê cằm lởm chởm râu, Ro­ran vừa nghĩ: “Er­agon là nguyên nhân của tất cả chuyện này… Chính vì nó và cái tính tò mò trời đánh của nó… Hừ, tha hòn đá quỷ quái đó từ núi Spine về nên mới gây nên chuyện.”

Ro­ran đã nghe những mẩu chuyện của dân làng, nhiều lần nhờ bà lang Gertrude đọc lá thư ông Brom để lại cho anh, nên Ro­ran đã kết luận: “Dù hòn đá đó là gì, chính nó là đầu mối hấp dẫn những kẻ lạ kéo tới nơi này.” Riêng chuyện đó cũng đủ để Ro­ran tin rằng cái chết của cha có lỗi của Er­agon. Nhưng anh không giận thằng em họ vì chuyện đó. Anh biết nó không cố ý. Ro­ran giận Er­agon vì đã bỏ lại ông Gar­row mà trốn khỏi thung lũng Palan­car, trốn trách nhiệm mà phóng theo ông già kể chuyện. Biết bao lần Ro­ran tự hỏi: “Nó bỏ đi vì sợ? Vì cảm thấy có tội? Hay bị ông Brom dụ dỗ vì những chuyện lẩm cẩm hoang đường? Tại sao nó có thể nghe lời ông ta mà bỏ đi trong lúc gia đình khốn khổ như vậy được? Bặt tin tức… đến nổi cho đến bây giờ mình cũng chẳng biết nó sống chết ra sao.”

Ro­ran cố bình tâm suy nghĩ về lá thư của ông Brom. Chưa bao giờ Ro­ran nghe những lời mù mờ ẩn dụ kỳ quái thế. Chỉ một điều duy nhất rõ ràng là: hãy tránh xa những kẻ lạ. Hừ, ông lão điên rồi.

Nghe tiếng động, Ro­ran quay lại. Khoảng mười hai con nai – một con mới nhú sừng non – đang thon thót nhảy vào rừng. Anh ghi nhớ địa điểm để ngày mai quay lại. Dù không có tài bằng Er­agon, nhưng Ro­ran cũng hãnh diện vì có thể săn bắn đủ nuôi thân trong nhà chú Horst.

Sau khi ông Gar­row mất, Ro­ran đã bỏ việc tại nhà máy xay của ông Demp­ton ở Therins­ford, để trở lại Car­va­hall. Chú Horst cho anh ở nhờ, rồi mấy tháng sau cho anh một việc làm trong lò rèn của ông. Phiền muộn đã làm Ro­ran chẳng thiết gì đến tương lai, cho đến hai hôm trước đây anh mới quyết định bắt tay vào việc.

Lý do Ro­ran tới làm trong nhà máy xay tại Therins­ford là vì anh muốn kiếm tiền để cưới Ka­tri­na, con gái lão chủ cửa hàng thịt. Nhưng nay, không nhà cửa, ruộng vườn, tài sản; lấy gì để nuôi vợ đây? Ro­ran không còn tâm trí nào để hỏi cưới cô nữa. Danh sự không cho phép anh làm điều đó. Vả lại, Ro­ran nghĩ, không đời nào lão Sloan chấp nhận một thằng rể tương lai mù mịt như Ro­ran. Ngay khi tình hình còn sáng sủa, Ro­ran đã khó lòng thuyết phục lão đồng ý gả con gái cho anh, huống hồ bây giờ. Cũng không thể cưới Ka­tri­na mà không có sự thấp thuận của lão Sloan, trừ khi anh và Ka­tri­na chấp nhận cô bị đuổi ra khỏi nhà và chấp nhận dân làng nguyền rủa vì đã phạm thuần phong mĩ tục. Và nhất là sẽ châm ngòi cho mối thâm thù, có thể gây đổ máu với lão Sloan.

Suy đi tính lại, dường như chỉ còn một cách là Ro­ran phải xây dựng lại trang trại nhà cửa, dù với hai bàn tay trắng. Khi ổn định cuộc sống, anh mới có thể ngẩng cao đầu tới gặp ông bố vợ tương lai. Sớm nhất cũng phải tới mùa xuân năm sau. Ro­ran biết Ka­tri­na có thể đợi… ít nhất thì cũng trong một thời gi­an nữa!

Ro­ran tiếp tục đi cho đến chiều mới thấy ngôi làng. Từ xửa sổ những ngôi nhà nho nhỏ, giăng mắc đầy dây phơi quần áo. Đàn ông từ cánh đồng lúa mì lũ lượt trở về. Sau làng vn, ngọn tháp Igual­da cao nửa dặm, rực rỡ trong nắng chiều, ầm ầm đổ từ núi Spine xuống dòng Ano­ra. Ro­ran cảm thấy ấm lòng khi nhìn hình ảnh quen thuộc đó.

Rời đường cái, Ro­ran tiến lên gò cao, nơi ngôi nhà của gia đình chú Horst quay mặt về hướng núi. Anh bước qua cánh cửa mở sẵn, theo tiếng chuyện trò đang rôm rả, tiến vào bếp.

Chú Horst, hai tay áo xắn cao, đang đẩy cái bàn gỗ mộc vào góc nhà. Vợ chú, thím Elain, tủm tỉm cười mãn nguyện. Trước mặt ông bà là hai cậu con trai, Al­briech và Bal­dor.

Lúc Ro­ran vào, Al­briech đang nói:

– …mà lúc đó con chưa ra khỏi lò. Nhưng Thane nhất định thề là thấy con, trong khi con còn đang ở đầu kia thị trấn…

– Chuyện gì vậy?

Vừa bỏ ba-​lô xuống Ro­ran vừa hỏi. Nhưng thím Elain nói ngay:

– Để thím lấy chút gì cho cháu ăn đã.

Trong khi đặt bánh mì và một tô thịt hầm lên bàn, thím nhìn Ro­ran hỏi:

– Sao rồi?

– Những gì bằng gỗ đều bị cháy hay mục nát hết. Chỉ cái giếng là còn tốt. Nếu muốn có một chỗ chui ra chui vào trong vụ mùa này, cháu phải hạ một số cây để lấy gỗ, càng sớm càng tốt. Nhưng nhà ta đang có chuyện gì vậy?

Chú Horst lên tiếng:

– À, chuyện tào lao. Thane mất cái liềm, cứ đổ cho thằng Al­briech đã lấy.

Al­briech càu nhàu:

– Chắc ném vào bụi cỏ, rồi quên đem về chứ ai thèm lấy.

Ro­ran cắn miếng bánh, nói:

– Sao lại đổ cho cậu ấy được? Nếu cần, nhà này rèn cả chục cái liềm còn được mà.

– Mình biết chứ. Nhưng thay vì đi tìm hắn cứ la toáng lên là thấy một người giống mình ra khỏi ruộng nhà hắn. Như vậy kẻ lấy cái liềm… phải là mình.

Thật tình thì chẳng có ai trông giống Al­briech được. Thừa hưởng thân hình to lớn của cha và mái tọc màu mật ong của mẹ, trong anh ta kỳ dị nhất Car­va­hall, một nơi toàn người tóc nâu. Bal­dor tóc đen và gầy hơn anh.

Bal­dor thủng thỉnh nói:

– Tức làm gì. Trước sau gì cũng rõ trắng đen thôi.

– Mày nói thì dễ lắm.

Ro­ran hỏi chú Horst:

– Mai chú có cần cháu làm gì không?

– Cũng chẳng có gì. Chú mới bắt tay làm cái xe ngựa cho Quin­by. Chưa xong bộ khung mà.

Ro­ran vui mừng nói:

– Tốt. Vậy là mai cháu đi săn được rồi. Có một bầy nai trong thung lũng, trông khá ngon lành.

Bal­dor hớn hở nói:

loading...

– Cậu muốn có bạn cùng săn không?

– Quá tốt. Sáng sớm mai chúng mình đi.

Ăn xong, Ro­ran rửa mặt, rửa tay, rồi ra ngoài đi lang thang cho đầu óc tỉnh táo.

Nửa đường vào trung tâm thị xã, tiếng chuyện trò sôi nổi trước cửa quán rượu Bảy Bó Củi làm Ro­ran chú ý, tò mò lại gần. Một người đàn ông trung niên, áo choàng da vá víu, ngồi ngay ngoài cổng quán. Bên cạnh ông ta là một bó bẫy thú bằng thép. Hàng chục dân làng xúm xít chung quanh, chăm chú nghe người đan ông vừa vung tay vừa nói:

– Vì vậy mà tới Therins­ford tớ đến ông Neil ngay lập tức. Một người đàng hoàng, tốt cực nhé. Tớ làm phụ nông cho ông Neil trong suốt vụ xuân hè.

Ro­ran gật gù, đúng vậy, dân bẫy thú ở trong núi hết mùa đông, đầu xuân mới trở về làng để bán da thú cho những lò thuộc và kiếm việc làm, thường là phụ nông. Vì Car­va­hall là làng nằm về cực bắc của núi Spine, nên dân bẫy thú thường qua làng, và đó cũng là một trong những lý do Car­va­hall có quán rượu, lò rèn và một lò thuộc da.

– Sau khi làm mấy cốc bia cho miệng lưỡi trơn tru – vì các bác biết rồi đó, nửa năm ở rừng, miệng câm như hến, chỉ lâu lâu để sổng mất con mồi mơi bật ra một tiếng chửi thề. Tớ đến ông Neil, râu ria còn dính bọt bia là bắt đầu huyên thuyên, hỏi ông đủ thứ chuyện trên đời cho đã thời gi­an ở rừng không được nói. Từ tin tức nhà vua, đến chuyện triều đình, chuyện xóm làng ai còn ai mất… Rồi… các bác thử đoán xem ông ta cho tớ biết những chuyện gì nào? Ông ấy bảo tớ ông ổng cái miệng vừa vừa thôi, tin đồn tùm lum từ Dras-​Leona và Gil’ead đủ thứ chuyện kỳ lạ đang xảy ra khắp nơi tại Ala­gae­sia này. Những vùng dân cư, thình lình biến sạch lũ Ur­gal, nhưng không ai biết tại sao và chúng biến đi đâu? Việc buôn bán tại đế quốc giảm xuống phân nửa, vì những cuộc đột kích, tấn công… mà… không chỉ do tụi thảo khấu đâu. Vì những cuộc tấn công xảy ra khắp nơi, rất tinh vi, rất có tính toán. Hàng hóa không bị cướp, chỉ thiêu hủy. Mà đâu chỉ có vậy…

Gã thợ bẫy thú, nâng bầu rượu bằng da tu ừng ực, rồi tiếp:

– Người ta thì thầm với nhau, vùng đất phía bắc, có một tà thần lảng vảng. Có người nhìn thấy nó gần Du Welden­var­den và Gil’ead. Họ bảo răng nó nhọn hoắt, mắt tím đỏ như rượu nho, tóc đỏ lòm như máu. Tệ hơn nữa là những chuyện đang xảy ra sẽ làm hao tổn tiền bạc của chính chúng ta. Vì nhà vua đã nổi trận lôi đình… Mới năm hôm trước, một gã múa rối trên đường từ miền nam tới Ce­unon, đã ghé lại Therins­ford. Hắn bảo quân lính rầm rập di chuyển chẳng biết đi đâu.

Nhún vai, tay thợ săn triết lý:

– Ngay từ ngày tớ còn bú tí mẹ, cha tớ đã bảo “nơi nào có khói, ở đó có lửa.” Khói lửa này rất có thể là quân Var­den. Hoặc cũng có thể là nhà vua không còn chịu đựng, nhân nhượng mãi cho cái gai là đất nước Sur­da. Ít ra triều đình còn biết Sur­da ở đâu để mà tấn công, không như quân cách mạng Var­den.

Trong khi mọi người nhao nhao tranh nhau hỏi. Ro­ran chau mày­suy nghĩ, khó tin vào những lời đồn về tà thần, chắc lại là chuyện bịa đặt của mấy lão tiều phu say xỉn. Nhưng còn những chuyện khác, nếu quả đúng thật thì rất đáng lo. Sur­da? Rất ít thông tin về đất nước xa xôi này, nhưng ít nhất Ro­ran biết một điều: Sur­da và Đế quốc sống trong nền hòa bình giả tạo, Sur­da vẫn luôn nớp nớp lo sợ nuớc láng giềng hùng mạnh hơn xâm chiếm. Người ta đồn rằng, đó là lý do nhà vua Or­rin của Sur­da đã tài trợ cho phe Var­den.

Nếu tin tức về vua Gal­ba­torix của người bẫy thú này chính xác, chiến tranh tàn khốc sẽ xảy ra, và kéo theo là sưu cao thuế nặng, cưỡng bách tòng quân…

Giọng người bẫy thú thì thầm nghiêm trọng:

– Chưa, chưa hết đâu. Còn chuyện này nữa mới mê ly hấp dẫn. Nghe này: một kỵ sĩ rồng xuất hiện tại Ala­gae­sia… HA HA HA!

Hắn bật ngửa người, vỗ bụng cười hô hố. Ro­ran cũng phì cười. Năm nào chẳng có chuyện kỵ sĩ rồng xuất hiện. Mấy lần đầu người ta còn hồ hởi quan tâm, rồi sau chẳng ai buồn tin những lời đồn nhảm nữa. Chỉ là những đồn đãi của những kẻ quá mơ màng đến một tương lai sáng sủa hơn.

Vừa định quay đi, Ro­ran chợt thấy Ka­tri­na đứng nơi góc quán. Cô mặc áo màu nâu đỏ, thắt giải băng xanh. Hai người đắm đuối nhìn nhau. Tiến lại gần, anh nhẹ vuốt vai Ka­tri­na, rồi cùng cô bước đi.

Tới cuối làng, họ ngừng lại ngước nhìn bầu trời lóng lánh đầy sao. Ka­tri­na dựa đầu lên vai Ro­ran thì thầm hỏi:

– Hôm nay anh đã làm gì?

– Anh trở về nhà.

– Nhà cửa sao rồi anh?

– Kinh khủng lắm…

Hương tóc cô thơm nồng nàn, thấm vào Ro­ran như an ủi, khích lệ anh nói tiếp:

– Nhà cửa, chuồng trại, ruộng vườn tan nát hết. Nếu chưa từng quen thuộc, anh không thể nào nhận ra nơi trước kia từng là nhà mình.

Ka­tri­na ngước nhìn Ro­ran. Mặt cô buồn rầu, mắt cô lóng lánh ánh sao. Hôn nhẹ lên môi Ro­ran, Ka­tri­na kêu lên:

– Ôi! Ro­ran! Anh đã chịu mất mát quá nhiều, vậy mà vẫn đầy nghị lực. Anh sẽ trở lại trang trại chứ?

– Anh còn biết làm gì khác nữa?

– Còn em?

Ro­ran bối rối. Từ khi yêu nhau, tuy không nói ra, nhưng cả hai đều quyết định sẽ cưới nhau. Ý định đó của Ro­ran rõ như ban ngày, vì vậy câu hỏi của Ka­tri­na lúc này làm anh bứt rứt. Đáng lý anh phải là người ngỏ lời – trước là với cha nàng, sau tới nàng. Nhưng với hoàn cảnh hiện nay…

– Ka­tri­na… anh không thể tới gặp cha em như dự tính. ông sẽ cười vào mặt anh, và ông có lý. Chúng ta phải đợi thôi. Ngay sau khi anh lo được một chỗ ở cho hai chúng ta và sau vụ thu hoạch mùa đầu tiên, anh sẽ đến thưa chuyện cùng cha em.

Cô lại ngửa mặt nhìn trời thì thầm nho nhỏ. Ro­ran phải hỏi:

– Em nói gì?

– Em nói, anh sợ cha em phải không?

– Tất nhiên là không, nhưng anh…

– Vậy thì hãy đến gặp ông ngay ngày mai. hãy làm ông hiểu rằng, dù lúc này anh chẳng có gì, nhưng rồi anh sẽ cho em một mái ấm và sẽ là một người con rể xứng đáng làm cho ông hãnh diện. Chúng ta yêu thương nhau thế này, sao phải chờ đợi thêm vài năm nữa?

– Anh không thể. Lúc này anh chưa thể lo cho em được…

Ka­tri­na tách rời khỏi Ro­ran:

– Ro­ran, em yêu anh. Anh không hiểu sao? Em muốn được ở bên anh, thuộc về anh. Nhưng cha em đã muốn định nơi khác cho em. Theo ông, có nhiều người đủ tư cách hơn anh. Nếu anh lần lữa, ông càng có dịp thúc giục em nhận lời một bà mối đã đến ngỏ lời. Ông sợ em thành gái già. Em cũng sợ.

Cô ngước đôi mắt đầm đìa nước mắt nhìn Ro­ran, rồi chạy vội về nhà.

Ro­ran bàng hoàng đứng lặng người. Cô bỏ đi làm anh đau đớn như khi nhìn trang trại điêu tàn, thình lình cả thế giới quanh Ro­ran lạnh lẽo và cô quạnh quá. Dường như cô đã đem theo một nửa hồn anh. Mấy tiếng đồng hồ sau, Ro­ran mới trở về nhà chú Horst, lẳng lặng chui vào giường.

Mục lục
loading...